Cao Đức Tiến

Tuyển tập thơ

THƠ LÀ GÌ?

Trích từThơ và Văn (2025)· Phần thứ nhất — THƠ· tr.5

Đã từ lâu, người ta cho rằng: Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu

tiên của loài người. Do vậy, có một thời gian khá dài, thuật ngữ Thơ

được dùng để chỉ chung cho Văn học. Và cũng vì thế, để đưa ra được một

định nghĩa thể hiện được bản chất thật chuẩn xác của thơ là một việc làm

không mấy dễ dàng.

Nhìn lại lịch sử phát triển của thơ, có thể thấy mấy điểm nổi bật như

sau:

1.Ở thời cổ Trung Hoa, khái niệm *"Thơ là gì?"* đã được đề cập từ rất

sớm. Cách đây khoảng 1500 năm, trong sách *Văn tâm điêu long*, Lưu Hiệp

đã đề cập đến 3 phương diện cơ bản để cấu thành một bài thơ là: *Tình

cảm, ý nghĩa (Tình văn*); *Ngôn ngữ (Hình văn)* và *Âm thanh (Thanh

văn).*

Đến thời Đường, kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị đã nêu lên

những yếu tố cơ bản để tạo nên điều kiện tồn tại của thơ là: "*Cái cảm

hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước

được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, quả là ý nghĩa*". Quan

niệm này vừa chỉ ra được những yếu tố cấu thành tác phẩm, vừa chỉ ra

được mối quan hệ gắn bó giữa các yếu tố đó, tương tự như gốc rễ, cành

lá, hoa quả gắn kết với nhau trong một thể thống nhất vô cùng sinh động.

Chính vì thế, đây được coi là quan niệm về thơ khá toàn diện và thực sự

sâu sắc của nền lí luận văn học cổ điển Trung Hoa.

2. Ở Châu Âu, các nhà Cấu trúc chủ nghĩa lại thay thế câu hỏi *"Thơ là

gì?*' bằng một câu hỏi khác; Tính thơ là gì? Và nó được thể hiện ra như

thế nào? Trong Tiểu luận "Thơ là gì?", Jacobson viết: " Nhưng tính thơ

được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là

từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ

định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình

thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn

của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng". Tiếp tục triển khai lí

thuyết tự quy chiếu, sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản cuả hoạt

động ngôn ngữ là *tuyển chọn* và *kết hợp*, Jacobson đã đi đến kết luận:

*"Chức năng thi ca đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu

lên trục kết hợp"*. Mặc dù có lưu ý ít nhiều đến hoạt động nguyên lí

tương đương về ý nghĩa, nhưng trong tư duy nghiên cứu của Jacobson thì

cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ

pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính

chất khép kín của văn bản. Điều này cũng có nghĩa là khái niệm ý nghiã

được hiểu một cách hạn hẹp. Vì trong thực tế từng cho thấy: Ý nghĩa cuả

thơ nhiều khi còn vượt ra ngoài ý nghĩa của văn bản.

3. Ở nước ta, khái niệm *"Thơ là gì?"* cũng đã được nhiều nhà nghiên

cứu và sáng tác thơ, với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau

đã phát biểu như sau:

- Lí giải về bản chất của thơ, các tác giả của nhóm *Xuân Thu nhã tập*

cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu".

- Tố Hữu thì quan niệm : "Thơ là cái nhụy của cuộc sống". "Thơ là tiếng

nói đồng ý, đồng tình, đồng chí".

- Bằng cái nhìn của cấu trúc, GS.Phan Ngọc định nghĩa: "Thơ là cách tổ

chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm

xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này". Định nghĩa của GS.Phan

Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu

thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua. Đặc

biệt, đã gợi ra một hướng nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: Thơ không chỉ

là hiện tượng ngôn ngữ học thuần túy, mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp

nghệ thuật, một phát ngôn với ý nghĩa đầy đủ của từ này.

- Nhà thơ Sóng Hồng thì cho rằng: "Thơ là sự thể hiện con người và thời

đại một cách cao đẹp. Thơ không chỉ nói lên tình cảm của nhà thơ, mà

nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hi vọng của cả dân tộc,

những ươc mơ của nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng

và xu thế chung của lịch sử loài người". Và cụ thể hơn, ông viết: "Thơ

là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình

cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và

lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí

trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ

trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường". (Tựa *Thơ Sóng Hồng*).

- Còn cách định nghĩa của các tác giả cuốn *Từ điển thuật ngữ văn học*

(Do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn) thì cho rằng:

"Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm

trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và

nhất là có nhịp điệu". Có thể coi đây là định nghĩa về thơ đã chỉ ra một

cách đầy đủ cả nội dung và hình thức nghệ thuật, đồng thời khu biệt được

đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ thuộc các thể loại văn

học khác.

4. Các định nghĩa về thơ như đã kể trên, ít nhiều đều mang vẻ "hàn

lâm". Để gần gũi hơn, ta có thể nhìn nhận về thơ như sau:

Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức trữ tình. Đây là loại sáng

tác văn học nhằm phản ánh hiện thực khách quan, thể hiện những cảm xúc

sôi nổi, đằm thắm của từng cá nhân trước những đối tượng xác định bằng

những hình ảnh cụ thể, gợi cảm nhờ ngôn ngữ hàm súc và giàu nhịp điệu.

Thơ là một kiểu lời nói đặc biệt. Gọi là *"kiểu lởi nói đặc biệt*" vì

thơ có nét đặc thù về tách dòng, ngắt nhịp, gieo vần, tách khổ, sử dụng

các biện pháp tu từ...mà các loại khác không có lợi thế sử dụng.

Nói đến thơ, phải quan tâm đến *chất thơ* và *tứ thơ*. Thơ không phản

ánh cuộc sống bằng những tình tiết phức tạp như ở tiểu thuyết; bằng

những mâu thuẫn giằng xé như trong kịch, mà chỉ ghi lại những tình cảm,

sự việc, hiện tượng gây xúc động lòng người. Vì vậy, trong một bài thơ

thường ít chi tiết, tình cảm rất cô đọng, tập trung, tạo nên sự gợi cảm

và rung động đối với tâm hồn người đọc. Những cái có sức *gợi cảm* và

làm *rung động* lòng người ấy chính là *chất thơ*.

Chất thơ lại cần được cấu tứ một cách đặc biệt, sao cho có sự ăn nhập

hài hoà giữa hình tượng và ý nghĩa, thể hiện được nét đặc sắc trong cách

nhìn, cách cảm và cách tìm tòi, biểu đạt của bài thơ. Chính những cái đó

tạo nên *tứ* cho bài thơ. "Một bài thơ phải là hình tượng có tìm tòi

sáng tạo, thể hiện ý trọn vẹn, gợi lên điều tốt đẹp xúc động lòng người,

tạo ra những mối liên tưởng rộng rãi, nghĩa là có giá trị thẩm mĩ cao" -

(*Nguyễn Xuân Sanh. Thơ - tìm hiểu - thưởng thức. NXB tác phẩm mới, Hà

Nội 1985, tr. 13).* Như vậy, *tứ thơ là cái thần, cái hồn của một bài

thơ.*

*Ngôn ngữ thơ* giàu hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu và có độ *hàm súc*

lớn. Đó là thứ ngôn ngữ được lựa chọn kĩ càng, giàu sức biến hoá, mang

nhiều biện pháp tu từ hơn hẳn các loại khác. Do đó, thơ có khả năng diễn

đạt những cảm xúc tinh vi, có sức thâm nhập, tác động đến miền sâu thẳm

nhất của tâm hồn con người, đồng thời cũng có sức hấp dẫn, lôi cuốn mãnh

liệt...

Đặc trưng của thơ có nhiều điểm, nhiều nét, nhưng nổi bật nhất là *tính

nhịp điệu.* Tính nhịp điệu của thơ được thể hiện ở việc ngắt nhịp ngạy

trong nội bộ một dòng thơ, ở việc tách dòng thơ, khổ thơ và đoạn thơ.

Thơ có thể thiếu vần, nhưng không thể thiếu nhịp điệu. Nhịp điệu quan

trọng đến mức thiếu nó thì không thể có thơ. Vì thể, có những bài văn

xuôi như *Cây tre Việt Nam* của Thép Mới chẳng hạn, rất giàu nhịp điệu,

nên được gọi là bài thơ bằng văn xuôi. Tuỳ theo những sắc thái khác nhau

của rung động và cảm xúc, người làm thơ có thể chọn cho mình những nhip

điệu thích hợp, những cách phối hợp các âm thanh *bằng -- trắc* với

giọng điệu thật hài hoà để tạo nên nhạc điệu cho thơ...

Nhà thơ Sóng Hồng có những nhận xét khá xác đáng về đặc trưng của thơ

như sau: *"Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao

đẹp"..."Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi. Người làm thơ

phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ

là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật.

Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua

những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường^"^*- (Sóng Hồng.

Thơ NXB Văn học, Hà Nội, tr. 6-8.).

Với cách nhìn nhận và hiểu biết khá đa dạng về thơ như vậy, nên mỗi

người làm thơ đều lựa chọn cho mình những cách thức phù hợp để biểu đạt

những cảm xúc, những nỗi niềm, hoặc tình yêu lớn hay nhỏ đối với Thiên

nhiên, với Đất nước và Con người... Tác giả sách này làm thơ cũng không

ngoài cái xu hướng chung ấy.

*********