Tuyển tập văn
CẢM NHẬN VỀ BẢN DỊCH BÀI PHÚ TIỀN XÍCH BÍCH
Thu Nhâm Tuất qua rằm tháng bẩy Ông Đông Pha ^(1)^ cùng mấy bạn hiền Lênh đênh thả một con thuyền Qua chơi Xích Bích ^(2)^ thuận miền xuôi sông Gió hây hẩy mặt sông chẳng gợn Dang tay tiên rót chén tương phùng Ngâm câu minh nguyệt thanh phong Ca chương Yểu điệu giãi lòng tôi con Trăng phút chốc sườn non rạng dấu Lửng lơ chừng sao Đẩu, sao Ngưu Ngang sông sương trắng một màu Long lanh đáy nước liền thao vẻ giời
Một lá cỏ ngược xuôi chẳng bận Muôn tầm sông cũng xấn trôi qua Lâng lâng nào biết đâu mà Nương không cưỡi gió tưởng là thế chăng Tưởng phút chốc lạc chừng đứng một Mọc cánh lông mà vụt lên tiên Rượu vui vui với bạn hiền Nhân khi cao hứng gõ thuyền ca ngâm Rằng lan quế là dầm bánh lái Đạp không minh mà giãi lưu quang Lòng ta dằng dặc nhớ thương Nhớ thương người đẹp một phương xa trời
Khách vốn lại là người cảm khái Thổi ống tiêu họa lại vần ca Khúc đâu nức nở đậm đà Như là oán mộ, như là xót thương Khúc đã hết tiếng vang mãi mãi Nghe giãi dài như sợi tơ vương Hang sâu múa cái thuồng luồng Động lòng gái góa thuyền suông sụt sùi Tô rầu rĩ vội ngồi xốc áo - Hỏi cớ sao sầu não thế ư ? Khách rằng : "Trăng bạc sao thưa Chim ô quanh quất ấy thơ họ Tào ^(3)^
Bên tây ngoảnh trông vào hạ khẩu Quay sang đông nhìn dấu Vũ Xương Non sông một dải mơ màng Nơi Tào Mạnh Đức căm chàng Chu Du ^(4)^ Kịp khi đất Kinh Chu đã phá Đất Giang Lăng lại hạ vừa xong Thuận dòng xuôi xuống phương Đông Thuyền chen chật bến, cờ rong rợp trời Tiệc trên nước vui chơi lúc ấy Dáo ngang tay ngâm mấy vần thơ Anh hùng tiếng nức từ xưa Mà xem thấm thoắt bây giờ còn đâu !
Huống chi ta buông câu, hái củi Sóng lênh đênh đắp đổi tháng ngày Hươu nai tôm cá bạn bầy Lá thuyền đủng đỉnh chung say một bầu Trong trời đất gửi thân phù thế Hạt thóc rơi mặt bể mênh mông Thương ai cái kiếp chốc mòng Ước gì lại được như sông lâu dài Muốn cùng tiên rong chơi chín cõi Ôm vầng trăng mãi mãi dài lâu Biết rằng muốn chẳng được đâu Nỗi buồn lại gửi gió sầu thoảng bay".
- Tô rằng : "Khách cũng có hay Trăng kia cùng với nước này ấy sao Trăng tròn khuyết không bao giờ ngớt Thế mà không thèm bớt chút nào Sông kia nước chảy thao thao Mà xem chẳng thấy lúc nào đứng yên Này đem lý biến mà bàn Chỉ trong chớp mắt lâu hơn cao dầy Lý bất biến thế này cũng có Vật với ta muôn thuở không cùng Ấy là vạn vật biến thông Cớ chi nuối tiếc cho lòng xót thương
Vả sinh ở trong vòng tạo hóa Vật chi chi cũng có chủ rồi Của mình chẳng có thì thôi Dẫu từ một mảy cũng coi bằng thừa Duy có cảnh gió đưa mặt nước Một vừng trăng cao gác sườn non Nhìn nước chảy, ngắm trăng tròn Cũng thanh cũng sắc, cũng giòn, cũng xinh Lấy mà chẳng ai tranh ai giữ Tiêu pha đi vẫn cứ còn nguyên Ấy kho vô tận vững bền Mà ta với bác từng quen chơi bời".
Khách nghe nói tươi cười hớn hở Tráng chén quỳnh lại mở tiệc vui Chén xong mâm bát tơi bời Nằm khênh nào biết rằng trời rạng đông. -------------------------------------- (1). Tức Tô Thức (1036-1101). Thi nhân đời Tống, tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ, sinh trưởng trong một gia đình văn học. Cha là Tô Tuân, con ông là Tô Triệt, em gái là Tô Tiểu Muội đều giỏi văn thơ. Ông rất thông minh, học rộng, du lịch nhiều, theo cả Nho lẫn Lão, khí phách hào phóng, lời thơ rất tự nhiên mà tân kỳ, có bài phảng phất như nhà thơ Lý Bạch đời Đường. Ông được xưng tụng là một trong tám nhà thơ lớn đời Đường - Tống (Đường - Tống bát đại gia).
(2). Xích Bích là tên một dãy núi ở huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc, trên bờ sông Dương Tử. Năm 13 niên hiệu Kiến An (208), Tào Tháo từ đất Giang Lăng đuổi đánh Lưu Bị; Bị cầu cứu Tôn Quyền. Tướng của Quyền là Chu Du dùng lối hỏa công đánh thuyền của Tào Tháo cháy rụi, quân Tào thua to. Hai bên bờ sông bị lửa đốt đỏ rựng trời nên gọi là Xích Bích (Vách đỏ). Tô Đông Pha tức Tô Thức tác giả bài phú này, một lần bị trích ở đất Hoàng Châu (nay là huyện Hoàng Cương) cũng thuộc tỉnh Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông cách xa huyện Gia Ngư. Tại đây có dãy núi đá đỏ, cũng gọi là Xích Bích. Ông Tô đi dưới dãy núi ấy, làm ra bài phú này. Nhân vì trùng tên nên ông nhớ đến việc Tào Tháo, Chu Du hồi xưa mà nói đến trong bài. Sở dĩ gọi là Tiền Xích Bích, về sau Tô Thức lại đi chơi chỗ đó, lại làm thêm một bài phú nữa gọi là Hậu Xich Bích. Bài sau kém xa bài trước.
(3). Họ Tào chỉ Tào Tháo (155-220), tức Ngụy Vũ Đế là nhà chính trị, quân sự, nhà thơ thời Tam Quốc. Tên tự Mạnh Đức, còn gọi là A - Man, người huyện Tiều, nước Bái (nay là Hào Châu, tỉnh An Huy), thi đỗ Hiếu liêm (tức Cử nhân), ông được xếp vào hàng vĩ nhân của dân tộc Trung Hoa bởi những cống hiến xuất sắc trên nhiều lĩnh vực : chính trị, quân sự, kinh tế, sử dụng nhân tài... (4). Chu Du (175-210). Danh tướng nước Ngô thời Tam Quốc, tên tự Công Cẩn, người huyện Thư - Lư Giang (nay là Tây Nam huyện Lư Giang, tỉnh An Huy). Là người đa mưu túc trí, rất sành và tinh thông âm nhạc. Sau mắc bệnh chết khi còn rất trẻ. ###### *CẢM NHẬN VỀ BẢN DỊCH BÀI PHÚ "TIỀN XÍCH BÍCH"* Phú là một thể loại văn học truyền thống được sử dụng rộng rãi trong văn
học Trung Hoa. Phú thuộc "lục nghĩa" tức là: phong, phú, tỷ, hứng, nhã, tụng. Trong Kinh thi, phú được dùng như một thủ pháp nhằm phô bầy, ngôn chí, có ảnh hưởng nhất định đối với sự ra đời của thể loại phú sau này. "Phú là một dòng của thi vậy" (Ban Cố); "Phú là phô trần vậy. Là phô trương văn vẻ, tả vật nói chí" (Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long). "Tả vật nói chí" là chỉ nội dung của phú; "phô trương văn vẻ là nói về hình thức của phú". Đặc điểm của phú là "thể vật", tức là mô tả sự vật. Bên cạnh tả cảnh, phú cũng chú ý đến nói chí. Đó là nét quan trọng tương đồng với truyền thống "thi ngôn chí". Thông qua việc miêu tả sự vật để bầy tỏ tình chí trở thành nội dung của thể phú. Về nghệ thuật, phú chú trọng phô bầy sự vật, đồng thời cũng chọn nhiều từ ngữ hoa mĩ, diễm lệ. Bên cạnh đó, phú còn chú trọng vẻ đẹp về thanh
điệu, dùng bố cục kiểu tản văn, hình thức, tiết tấu và vần luật của thơ ca, đan xen những câu dài ngắn, sử dụng các biện pháp tu từ cũng như vần, đối một cách linh hoạt, hình thành một thể văn tự do, vừa chặt chẽ, vừa phù hợp với lối phô bầy sự việc của tản văn lại có thể đảm bảo được chất thơ. Đó có thể coi là những nét đặc trưng quan trọng của thể loại này. Bài phú "Tiền Xích Bích" nổi tiếng của Tô Đông Pha đời Tống đã mang đủ những nét đặc trưng nói trên. Đây được coi là một thiên tuyệt bút của thi nhân họ Tô. Ngày xưa, các bậc tao nhân mặc khách ở ta khi tiếp xúc với nguyên bản chữ Hán, hầu như ai cũng nhận ra sức hấp dẫn kì diệu toát lên từ những câu chữ của thiên tuyệt bút này. Sức hấp dẫn, lôi cuốn của bài phú được khơi dậy từ việc miêu tả cảnh mây trời, sông nước, núi non
hùng vĩ làm cho lòng người xao động, phấn khích muốn thả hồn bay vút lên tiên giới. Để rồi sau đó, cuộc đối thoại và luận bàn giữa "chủ" và "khách" về những ý tưởng siêu việt của triết lí nhân sinh và vũ trụ, đem đến cho người đọc muôn vàn dòng suy tưởng về cái vô hạn của thiên nhiên, tạo vật và cái hữu hạn không sao tránh khỏi của mỗi đời người. Những cái hay, cái đẹp trong "Tiền Xích Bích" đã được danh sĩ họ Đào thấu hiểu và chuyển sang tiếng Việt, để cho những người không hiểu biết nhiều về chữ Hán vẫn có thể cảm nhận được cái "hồn cốt" từ bài phú của thi nhân họ Tô. Cái "hồn cốt" của "Tiền Xích Bích" đến được với người đọc là nhờ ở mấy lẽ sau: Thứ nhất, thể thơ song thất lục bát thuần tuý dân tộc được chọn để thể hiện bài phú "Tiền Xích Bích" có khả năng kể chuyện, miêu tả rất uyển
chuyển, dễ gắn với "điệu tâm hồn" của người Việt. Thứ hai, trong bản dịch hầu như không còn chút bóng dáng nào của những chữ Hán khó hiểu, chỉ còn tên những địa danh, những nhân vật lịch sử mà mỗi khi nhắc đến thì những ai có chút vốn liếng văn chương đều nhận ra ngay. Thứ ba, sự sáng tạo (hay là "đồng sáng tạo") của người dịch là rất rõ nét. Chỉ từ một nguyên tác, người dịch đã có tới hai bản dịch, mà cả hai đều đến được với "tín", "đạt", "nhã" một cách nhuần nhị. Điều đó chứng tỏ sự tinh thông về cả hai ngôn ngữ Hán và Việt, sự hiểu biết sâu sắc về Tô Đông Pha với "Tiền Xích Bích", và sự am tường về âm luật của thể thơ dân tộc ở người dịch. Những điều nói trên được thấy khá rõ khi đọc từ nguyên tác đến bản dịch
nghĩa của Phan Kế Bính và hai bản dịch của Đào Nguyên Phổ. Chẳng hạn ở mấy câu mở đầu: Nguyên tác viết: "Nhâm tuất chi thu, thất nguyệt kí vọng, Tô Tử dữ khách phiếm chu, du ư Xích Bích chi hạ. Thanh phong từ lai, thuỷ ba bất hưng". Dịch nghĩa: "Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất, Tô Tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xich Bích. Hây hây gió mát, sông lặng như tờ". Bản dịch thứ nhất:
"Thu Nhâm Tuất qua rằm tháng bảy,
Ông Đông Pha cùng mấy bạn hiền,
Lênh đênh thả một con thuyền,
Qua chơi Xích Bích thuận miền xuôi sông".
Bản dịch thứ hai:
"Năm Nhâm Tuất qua rằm tháng bảy,
Ông Tô Công cùng mấy khách quen,
Trên sông Xích Bích con thuyền,
Gió hiu hiu thổi, sóng êm êm dừng".
Ta có thể nhận thấy những nét sau: Bản dịch nghĩa phản ánh đúng nguyên tác. Hai bản dịch có đôi chút khác nhau. Bản thứ nhất đã diễn tả gần đủ ý của nguyên tác trong khuôn khổ bốn dòng thơ; xem kĩ thì thấy còn vắng bóng dáng của gió và sóng trong nguyên tác. Ngược lại, ở bản dịch thứ hai, cũng với bốn dòng thơ đã thể hiện khá đủ ý của nguyên tác, và thật thần tình khi dịch: "Thanh phong từ lai, Thuỷ ba bất hưng" thành: "Gió hiu hiu thổi, sóng êm êm dừng". Ngoài ra, cũng còn một vài chỗ khác nhau nữa, như: "Thu Nhâm Tuất " và "Năm Nhâm Tuất"; "Ông Đông Pha" và "Ông Tô Công"; "mấy bạn hiền" và "mấy khách quen"; "Lênh đênh thả một con thuyền" và "Trên sông Xích Bích con thuyền". Những khác nhau này không có ảnh hưởng gì lớn đến việc phản ánh nội dung của nguyên tác. Sự "thần tình" của bản dịch còn được thể hiện ở nhiều chỗ khác nữa,
chẳng hạn như đoạn miêu tả tiếng sáo của khách: Nguyên tác viết: "Kì thanh ô ô nhiên, như oán như nộ, như khấp như tố, dư âm niểu niểu, bất tuyệt như lũ, vũ ư hác chi tiềm giao, khấp cô chu nhi ly phụ" Dịch nghĩa: "Tiếng sáo nảo nùng, rên rỉ như sầu như thảm, như khóc như than. Tiếng dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tí như sợi tơ chưa dứt. Làm cho con giao long ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác xũng phải sụt sùi" Bản dịch thứ nhất:
"Khúc đâu nức nở đậm đà,
Như là oán mộ, như là xót thương.
Khúc đã hết tiếng vang vang mãi,
Nghe giãi dài như sợi tơ vương,
Hang sâu múa cái thuồng luồng,
Động lòng gái goá thuyền suông sụt sùi".
Bản dịch thứ hai:
"Khách liền thổi sáo hoạ bài,
Vo vo tiếng sáo như người khóc than.
Như mến tiếc căm hờn mội nỗi,
Giọng ngân dài tựa mối tơ vương.
Hang sâu quằn quại thuồng luồng,
Thảm tình gái goá thuyền suông sụt sùi".
Bản dịch nghĩa rất sát và hay. Hai bản dịch thành thơ cũng theo sát từng chữ, dường như không bỏ lọt ý nào của nguyên tác. Cả hai bản dịch đều thể hiện được những âm thanh kì ảo của tiếng sáo và sức tác động của nó làm cho người gái goá phải động lòng, con thuồng luồng phải quằn quại, múa may. Những chữ Hán như: "oán" (giận hờn, thù hằn); "mộ" (mến chuộng); "khấp" (khóc); "niểu niểu" (gió lay hiu hắt, tiếng hát hay dịu dàng, có âm vận không dứt)...đều được chuyển qua tiếng Việt một cách nhuần nhị, diễn tả đủ ý của nguyên tác và rất thanh thoát. Đoạn dịch hay phải kể đến là đoạn nói về Tào Tháo bị Chu Du đánh bại trong trận Xích Bích thời Tam quốc. Cũng cần phải nói thêm rằng, Xích Bích (Vách đỏ) là nói đến "Bức tường lửa" do Chu Du dùng lối hoả công đánh vào những chiến thuyền đã đóng thành khối của Tào Tháo trên sông
Dương Tử, huyện Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc. Hai bên bờ sông cháy rực trời, quân Tào đại bại. Còn dãy núi đá đỏ cũng gọi là "Xích Bích" và cũng thuộc tỉnh Hồ Bắc, nhưng ở về phía đông, cách xa huyện Gia Ngư. Tô Đông pha đi dưới núi này và ra làm bài phú. Vì trùng tên là "Xích Bích", nên có sự liên tưởng đến việc Tào Tháo và Chu Du ngày xưa. Và chính sự liên tưởng này đã tạo nên cuộc luận bàn thú vị giữa "chủ" và "khách" về cái hữu hạn của kiếp người và cái vô hạn của đất trời, sông núi...Bàn về Tào Tháo thì đầy cảm phục, bởi người đó đã từng là thống soái của "tàu bè muôn dặm, cờ tán rợp trời, rót chén rượu đứng trên mặt sông, cầm ngang ngọn dáo ngâm câu thơ", nhưng cũng không khỏi than tiếc, ngậm ngùi: "đó thực là anh hùng một thời mà nay còn đâu?". Người dịch đã rất khéo léo chuyển những câu: *"Thuận lưu nhi đông dã, trục lô thiên lí, tinh kì tế
không, li tửu lâm giang, hoành sáo phú thi, cố nhất chi hùng dã, nhi kim an tại tai"* thành những câu song thất lục bát đầy hào khí và hoài cảm:
Thuận dòng xuôi xuống phương đông,
Thuyền chen chật bến, cờ rong rợp trời.
Tiệc trên nước vui chơi lúc ấy,
Dáo ngang tay ngâm mấy vần thơ.
Anh hùng tiếng nức từ xưa,
Mà xem thấm thoắt bây giờ còn đâu!
Rồi đến những dòng đầy hào hùng, lãng mạn:"Hiếp vi tiên dĩ ngao du, bảo minh nguyệt nhi trường chung" (muốn được dắt tay Tiên để chơi cho sung sướng, ôm lấy vầng trăng tỏ mà sống mãi với đời). Hai câu phú được dịch thành hai câu song thất có vẻ "chân phương" nhưng cũng không kém phần lãng mạn:"Muốn cùng Tiên rong chơi chín cõi, Ôm vầng trăng mãi mãi dài lâu" (Bản dịch thứ nhất) và hai câu lục bát cực hay, đầy bay bổng, mạnh bạo: "Cắp Tiên chơi chốn non Bồng, Tay ôm chị Nguyệt những mong trọn đời" (Bản dịch thứ hai). Nhưng rồi cái ước mơ ấy cũng sớm vụt tắt, bởi "khách" luôn ý thức được rằng cái hữu hạn của kiếp người đâu có cho phép được như vậy. Nên chi, "khách" buồn rầu mà thổ lộ trong điệu sáo: "Tri bất khả hồ sậu sắc, Thác di ưởng u bi phong" (Biết rằng không làm sao được như vậy, nên nảy ra tiếng rền rĩ ở trong cơn gió thoảng). Tâm trạng
ấy được dịch thành: "Biết rằng muốn chẳng được đâu, Nỗi buồn lại gửi gió sầu thoảng bay" (Bản dịch thứ nhất); và "Biết không thể vật nài thế được, Giọng buồn ngâm gửi trước gió bay" (Bản dịch thứ hai). Đoạn bàn luận ở cuối bài phú cũng là một đoạn được dịch rất hay. Đây là đoạn "chủ" bàn về những điều mang ý nghĩa triết học, lẽ biến dịch ở trong trời đất và những lẽ thường nhiên mang tính triết lí nhân sinh sâu sắc. Đó là khi bàn về "nước chảy mà chưa từng đi", "mặt trăng khi tròn khi khuyết mà chưa thêm bớt bao giờ", "mọi sự vật biến đổi ở trong trời đất cũng chỉ là trong chớp mắt", "mọi vật trong trời đất đều có chủ, nếu không phải của ta thì một li cũng không lấy"...Những lẽ ấy làm người phải biết, chớ có tham lam mà hưởng cái mình không có. Hãy biết hưởng những cái trời đất ban cho là "ngọn gió mát trên sông, vầng trăng sáng
trong núi". Đó là những thứ "lấy không ai cấm, dùng không bao giờ hết" -- là thứ "kho vô tận của tạo hoá" mà mọi người đều có thể hưởng chung. Những điều luận bàn cao siêu ấy được dịch như sau:
Trăng tròn khuyết không bao giờ ngớt,
Thế mà không thêm bớt chút nao.
Sông kia nước chảy thao thao,
Mà xem chẳng thấy lúc nào đứng yên.
(Bản dịch thứ nhất)
Nước kia vẫn xuôi dòng chảy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao.
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm.
(Bản dịch thứ hai)
Và:
Vả sinh ở trong vòng tạo hoá,
Vật chi chi cũng có chủ rồi.
Của mình chẳng có thì thôi,
Dẫu từ một mảy cũng coi bằng thừa.
(Bản dịch thứ nhất)
Vả thử ngẫm trong bầu vũ trụ,
Có vật gì không chủ đâu mà.
Vật gì chẳng phải của ta,
Dẫu từ một mảy chớ hoà nhúng tay.
(Bản dịch thứ hai)
Điều "thần tình" là ở chỗ: Ý của nguyên tác được chuyển sang hai bản dịch dường như không bị thất thoát một chút nào, vẫn giống nhau như những giọt nước, bởi người dịch đã khéo léo "đảo" các hình ảnh, các câu chữ trong khuôn khổ những dòng song thất lục bát mà vẫn đảm bảo được những nội dung, những ý tứ cần chuyển dịch. Rồi đến lời kết rất thảnh thơi:
Lấy mà chẳng ai tranh, ai giữ,
Tiêu pha đi vẫn cứ còn nguyên.
Ấy kho vô tận vững bền,
Mà ta với bác từng quen chơi bời.
(Bản dịch thứ nhất)
Và:
Mặc sức lấy ai nào dám giữ,
Tha hồ tiêu vẫn cứ chứa chan.
Cầu trời kho đụn vô vàn,
Mà đôi ta hãy chơi tràn là vui...
(Bản dịch thứ hai)
Các bản dịch bằng lời thơ đã dứt, mà những điều mang đậm ý nghĩa triết học, triết lí nhân sinh, lẽ biến dịch ở trong trời đất và trong Cõi Người vẫn như vang vọng trong lòng người đọc, đặt ra cho người đọc nhiều điều để suy ngẫm...
Bài phú "Tiền Xích Bích" của thi nhân họ Tô ra đời cách chúng ta khá xa, song những điều đặt ra trong bài phú vẫn có ý nghĩa rất thời sự đối với thời đại ngày nay. Bản dịch của danh sĩ họ Đào cũng cách chúng ta hơn một thế kỉ, nhưng ngôn từ được dùng trong cả hai bản dịch nghe vẫn rất gần gũi, hiện đại như Tiếng Việt thời nay. Các hậu duệ của danh sĩ họ Đào cho biết: Cả hai bản dịch đã được hoàn thành chỉ trong Một đêm! Điều đó nói nói lên sự trân trọng và tâm huyết với những điều mà thi nhân họ Tô đã đặt ra trong bài phú, đồng thời cũng thể hiện vốn Nho học uyên bác, vốn "Tiếng ta" vô cùng thâm hậu của danh sĩ họ Đào. Có thể nói không ngoa rằng: Nếu bài phú "Tiền Xích Bích" của Tô Đông Pha là một thiên Tuyệt bút, thì hai bản dịch của Đình nguyên Hoàng giáp
Đào Nguyên Phổ đã đem đến cho người đọc nước Việt những điều kì diệu của thiên tuyệt bút ấy, và cũng rất xứng đáng để được gọi là: Những bản dịch Tuyệt hảo, Tuyệt mĩ vậy!...
Hà Nội, Mùa Xuân năm Mậu Tý, 2008
*VÕ KHẮC TRIỂN (1883-1966) TIẾN SĨ NHO HỌC CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM Đôi nét về Tiểu sử Tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam Võ Khắc Triển "Võ Khắc Triển sinh năm 1883 trong một gia đình nông dân nghèo không có truyền thống khoa cử tại làng Mỹ Lộc, tổng Mỹ Lộc, huyện Phong Phú, tỉnh Quảng Bình, nay là thôn Mỹ Lộc Thượng, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Gia đình Võ Khắc Triển là một gia đình nông dân thuần phác, sống gắn bó với nhân dân lao động. Ông thân sinh Võ Khắc Triển không đỗ đạt gì nhưng thấy Võ Khắc Triển thông minh, sáng dạ nên ông đã hướng con trai vào con đường theo đòi chữ nghĩa thánh hiền và hy vọng rất nhiều vào ông.*
Mẹ Võ Khắc Triển là người phụ nữ Lệ Thủy, rất giàu tình cảm, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con, chăm lo nuôi dạy con cái, luôn giáo dục, răn dạy con cái về điều hơn lẽ thiệt, về cái thiện cái ác và lẽ sống ở đời. Võ Khắc Triển nổi tiếng thông minh, hiểu học ngay từ nhỏ. Tuy vậy, ông cũng lận đận về đường thi cử. Mười lần đi thi, 7 lần đỗ, 3 lần thi hỏng (4 đỗ Tú tài, 2 đỗ Cử nhân, 1 lần đỗ Tiến sĩ). *Bước đường làm quan của Võ Khắc Triển cũng gặp nhiều trắc trở. Sáu năm sau (1918), sau khi đỗ Cử nhân, ông mới được bổ Thừa chỉ sung Thừa phái bộ Lại. Năm 1920, sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được bổ làm Tri huyện Đồng Xuân. Năm 1923, được thăng làm Tri phủ Đức Thọ (Hà Tĩnh). Năm 1927, được điều vào làm Tri phủ An Nhơn (Bình Định). Năm 1931, làm Lang trung bộ
Binh kiêm Hộ thành Binh mã Phó sứ ở Huế. Năm 1933, làm Án sát tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1934, làm Án sat tỉnh Quảng Trị. Năm 1937, do thái độ cương trực không luồn cúi của ông khiến cho vua quan triều Nguyễn không ưa, Vua Bảo Đại đã thăng ông lên chức Tham tri rồi cho về hưu, lúc ông mới 54 tuổi. Ông về nghỉ hưu tại quê nhà. Đây là bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời ông - bước ngoặt quyết định một lòng đi theo Cách mạng, theo Bác Hồ. Ông coi đây là thời điểm chấm dứt "cuộc đời cũ" của mình. Năm 1957, nhận lời mời của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám, ông nhận ra làm việc tại Viện Văn học, sau này chuyển sang làm việc tại Viện Triết học cho đến khi mất, năm 1966. Tiến sĩ Võ Khắc Triển là một trí thức tiêu biểu cho những phẩm chất cao đẹp của người trí thức Việt Nam. Ông mãi mãi là tấm gương cho các thế hệ
noi theo về nhân cách, lối sống, tinh thần làm việc tận tụy, đức tính ham học, vai trò và khí phách của người trí thức trước mọi nhiệm vụ và thử thách của cuộc đời". (Trích yếu từ bài: "Võ Khắc Triển: Cuộc đời và sự nghiệp"của Vũ Thành Vinh, in trong cuốn: Tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam - Võ Khắc Triển (1883-1966), NXB Văn hóa -Thông tin, 2009, tr.161-169) Dưới đây là bài viết của tác giả sách này (Đã in trong cuốn: Tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam VÕ KHẮC TRIỂN, 1883-1966). Nhiều tác giả. Sách gồm 470 trang, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009.*