Tuyển tập văn
CẢM NHẬN VỀ "DÒNG SÔNG KHÁT"
(Của tác giả Nguyễn Văn Sách, NXB Hội Nhà văn, 2011)
"Dòng sông khát"! - Đã là cả một dòng sông mà còn khát! Nghe ra có điều gì đó tưởng như vô thường...Vậy "cái khát" của dòng sông này là gì? Liệu có cách nào hóa giải được "cái khát" này chăng? Tập thơ gồm 97 bài có độ dài ngắn khác nhau, viết về nhiều chủ đề khác nhau và bằng nhiều thể thơ khác nhau. "Dòng sông khát" là tên của một bài, được lấy để đặt cho cả tập, và có thể coi như là "đề từ" của cả tập thơ:
Dẫu muôn nghìn dào dạt
Cuồn cuộn đám mây trôi
Lòng chẳng nguôi cơn khát
Những chân trời xa xôi...
"Cái khát" của dòng sông phải chăng là cái khát của tâm hồn người cầm bút? Đó là cái khát không chịu "ngủ yên", cái khát này dù đã có "muôn nghìn dào dạt", nhưng lòng vẫn khôn nguôi, vẫn muốn vươn tới "những chân trời xa xôi". Đó là cái khát không chịu "dứt cơn" mà người làm thơ nào cũng muốn có...
Tác giả "Dòng sông khát" đã bộc bạch tâm hồn mình từ nhiều phương diện khác nhau. Trước hết là những nỗi niềm đối với nghề dạy học, một nghề mà tác giả đã gắn bó cả một đời với nhiều trăn trở về dạy chữ, dạy người. Tác giả "bâng khuâng" viết tặng những nhà giáo sắp nghỉ hưu mà cứ như viết tặng cho chính mình hồi nào:
Thầy sắp vào làng "cựu chiến binh"
Tán bàng xanh một khúc tâm tình
Chùm phượng bỗng hồng lên bịn rịn
Bâng khuâng tiếng trống níu chân mình.
(Bâng khuâng)
Những chữ rất đặc trưng cho sự thân thuộc với nhà trường như "tán bàng","chùm phượng","tiếng trống" cứ bám riết theo từng bước chân của tất cả những ai làm nghề dạy học...Không biết trong cuộc đời dạy học của mình, tác giả đã chứng kiến bao nhiêu lần cây bàng thay lá, mấy mươi lần hàng phượng trổ hoa và có bao nhiêu tiếng trống trường còn văng vẳng bên mình?...Tác giả nhớ về một thời:
Chúng tôi
Những nhà giáo không thuộc thế hệ a-còng (@)
Sáng uống cà phê, phóng Hon đa tới lớp
Đưa chúng tôi tới trường
Xưa chỉ có ngô bung dép lốp
Bước qua khói lửa chiến tranh, qua thời bao cấp.
Nhưng "thầy vẫn dạy các em bằng thước đo nhà giáo của mình / Những giá trị nằm ngoài sách vở / Tình yêu nào cũng ẩn chứa đức hy sinh". Cái thời gian khổ ấy, những người thầy đã dạy các lớp học trò của mình bằng những điều tàng ẩn trong sách vở và bằng cả "những giá trị nằm ngoài sách vở", bằng cái tâm trong sáng, cái đức hy snh, bằng "thước đo nhà giáo" của mỗi người thầy đích thực. Cái thời gian khổ ấy vẫn như một "mốc son" để gợi nhắc những ai đang nặng lòng với giáo dục hôm nay ngắm nhìn và suy ngẫm...Những người thầy của một thời "chưa hề xa vắng" ấy vẫn nặng lòng với nghề, luôn có lí để tự hào và thầm hát về một thời đáng nhớ của mình:
Chúng tôi những nhà giáo một thời
Những bài ca không lời
Mãi hát cùng năm tháng.
(Một thời những nhà giáo chúng tôi)
Vẫn nhớ về một thuở còn ghi dấu những "duyên nợ" với nghề và ăm ắp đầy những tình cảm thầy trò cho mãi tới hôm nay:
Còn gì "duyên nợ" - Từ lâu
Thầy xa bục giảng, trò đầu hoa râm
Những gì tưởng đã xa xăm
Hoa từ thuở ấy lại cầm trên tay
...Rưng rưng trò nắm tay thầy
Gặp bao dòng phấn - đường cày tháng năm
(Màu xanh xưa ấy)
Tác giả "Dòng sông khát" đã dành một phần khá lớn"cái tình" của mình cho quê hương, cho "cái tình của người làm thơ" về những cái nên thơ, nên hương giữa cuộc đời, mà có cái gì đó cứ phảng phất phong vị của ca dao và quan họ vùng Kinh Bắc. Có khi chỉ là một "chiếc bóng" thôi, nhưng lại thật giàu sức gợi:
Nhớ chiều ra đứng bờ ao
Em ngang qua bóng đổ vào vai anh
Thương nhau cởi áo để dành
Mặc vào lại hiện bóng hình...người ngoan
(Cảm xúc Bắc Ninh -- Chiếc bóng 1)
Thế rồi:
Rượu uống đỉnh dốc Thị Cầu
Em ngang qua bóng ngả đầu vào tôi
Đưa tay chẳng kịp níu người
Ôm ngang chiếc bóng đội trời
Mà say!
(Cảm xúc Bắc Ninh -- Chiếc bóng 2)
Và rồi, người làm thơ đang "rất tỉnh", "bỗng nhiên say"- cái say khác hẳn với những người đang say mà "tỉnh vội":
Rượu uống đang vào
em chợt đến
Mắt nhìn xanh mát cả trưa này
Mấy gã xỉn rồi
cùng tỉnh vội
Mình đang rất tỉnh
bỗng nhiên say.
(Say)
Nhớ về một thời dạy học, tác giả "Dòng sông khát" cũng nhớ về một thời tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống, nặng đầy yêu thương của mình. Có lúc, tác giả có điều gì như tiếc nuối, thả hồn về "những ngày xưa" và tự vấn:
Thương nhau đũa chả nên đôi
Tóc phai màu cước chưa vơi nỗi lòng
Rằng xuân hỏi có quay vòng
Đầu xanh ta lại ngược dòng đón đưa.
(Hỏi)
Có lúc, tác giả lại rất thận trọng trong từng chi chút nhỏ bé nhất của mối liên hệ giữa hai con người, đã phải dầy công lắm mới xây nên được, mà nếu như không biết nâng niu thì sẽ tan biến mất, bằng cách nói thật hình tượng để gửi gắm vào đó lời cảnh báo với những cặp trai tài gái sắc:
Hai viên bi đến tựa vào nhau
Càng tròn tiếp điểm thu càng nhỏ
Cẩn thận em ơi từng hơi thở
Dễ đưa ta trở lại hai đầu...
(Điểm tựa)
Có thể nói, tác giả "Dòng sông khát" đã dành khá nhiều những "sợi tơ lòng" để đan dệt cho mối quan hệ lứa đôi trong mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh với loạt bài khá ấn tượng như: Đợi, Tình huống biển, Sông xanh, Chiều, Hương chiều, Lối chiều, Phủ sóng, Lặng im, Tỏ tình, Tia chớp,... Bên cạnh cái tình dành cho lứa đôi, tác giả "Dòng sông khát" đã dành một phần không nhỏ những bài viết về lòng biết ơn các liệt sĩ, các chiến sĩ đã chiến đấu hy sinh cho quê hương, đất nước được bình yên hôm nay. Đó là những bài như: Chiều nghĩa trang, Đồng đội, Nỗi khát, Bản nhạc không lời, Chất lính, Đêm ấy Cổ Loa, Đón bằng di tích Quốc gia, Nụ cười để lại, Dấu thập hồng,... Những bài tác giả "Dòng sông khát" dành để viết về mẹ không thật nhiều,
nhưng hình bóng mẹ lại rất sâu đậm:
Mẹ đi xa mấy chục năm rồi
Vẫn trở về đây qua giọng nói, nét cười
Gậy trúc thong dong đầu phơ bạc
Miếng trầu cắn chỉ đỏ trên môi
(Gửi lại)
Hình bóng mẹ như được tạc bằng những nét thật đặc trưng trong tâm tưởng của con về "giọng nói, nét cười", về "cây gậy trúc thong dong", "mái đầu trắng bạc" và "miếng trầu cắn chỉ đỏ trên môi". Nhưng, mẹ "Thương cháu con chẳng nỡ mang đi hết / Gửi lại dáng mình / Vào dáng chị tôi". Cái "gửi lại" của mẹ thật đáng quý biết nhường nào, cứ nhìn vào "dáng chị" là như thấy mẹ hiển hiện hàng ngày, mẹ đã đi xa mà lại ở rất gần...Và cứ thế, có lúc mẹ lại là người của thuở sinh thời, mẹ "là người bé nhất" nhưng lại có "quyền uy" nhất nhà:
Nhà có người bé nhất
Ai cũng sợ cũng yêu
Luôn ra những mệnh lệnh
Cả nhà răm rắp theo
(Người bé nhất)
Mẹ "có quyền" lớn như vậy, bởi "Bao tảo tần, gánh vác / Vai lệch mòn chưa ngơi / Các con bằng bố rồi ? Mình thành người bé nhất". Mẹ thành người "bé nhất" về hình thể, nhưng mẹ lại có cái "lớn nhất" là đức hy sinh. Đó là cái để cho "ai cũng sợ cũng yêu", và để cho con, bằng tất cả lòng kính yêu, trân trọng, cảm phục hạ một dòng thơ rất ngắn mà như chất chứa tất cả: "Ôi! Mẹ của chúng tôi"...Thế rồi có lúc, hình bóng mẹ lại hiện về trong mơ của con, cho dù nay con cũng đã lớn tuổi, nhưng vẫn nhớ như in "hương trầu' và "lời ru" của mẹ:
Đêm qua mơ mẹ về đây
Hương trầu thoang thoảng sớm này chưa vơi
Nay con tóc cũng bạc rồi
Vẫn nghe thao thức bên trời lời ru
(Mẹ về I)
Và hình ảnh lam lũ ngày nào của mẹ như không thể bứt ra khỏi tâm khảm nơi con:
Sinh thời mẹ bốn mùa lam lũ
Nay chiêm bao...áo vá mẹ qua nhà
Đời đã lụa là mà cái rách
Vẫn theo người đi tới cõi xa...
(Mẹ về II)
Hình ảnh mẹ giống như bao người mẹ tảo tần, giầu đức hy sinh từ bao đời nay trên đất nước này, nhưng trong mơ của con hôm nay, khi cuộc sống đã có "lụa là", mà "cái rách" vẫn cứ bám riết lấy bóng mẹ, không chịu rời xa, "vẫn theo người đi tới cõi xa" thì quá đỗi xót xa! Giấc mơ mẹ về của tác giả "Dòng sông khát" vì thế mà như mang được nét rất riêng...
Tác giả "Dòng sông khát" cũng dành những suy nghĩ của mình về cõi Phật giữa cõi Người. Có thể dễ dàng nhận ra sự gần gũi giữa hai "cõi" này qua những dòng thơ khắc họa những thế cây tựa như thế đứng, ngồi của các vị La Hán ở chùa Tây Phương đang chia sẻ với đời. Tác giả đã thả hồn vào thế giới tưởng tượng và phát hiện ra những điều kỳ diệu về "những pho tượng xanh" trong vườn cây cảnh Đồng Kỵ:
Ngỡ chốn từ bi lạc cõi người
Cây như tượng Phật đứng chen ngồi.
"Tam đa" đầu đội ba điều ước
"Thất trụ" mình nâng một khoảng trời
"Ngũ phúc" trải qua bao đắng ngọt
"Cửu trùng" soi thấu mọi buồn vui.
Những pho tượng dưới trời đang thở
Cũng uống, ăn, trăn trở với đời.
(Những pho tượng xanh)
Và như một nét son ghi nhận lòng từ bi nơi cửa Phật trong cuộc sống thời nay:
Từ đứa trẻ nhặt được khi mới lọt lòng
Ni cô thoắt thành người mẹ
Mãi mãi thời con gái trắng trong
(Ni cô và đứa con)
Rồi cũng càng thấy rõ hơn sự chan hòa giữa Phật với Đời:
Nghìn tuổi sông Tương mấy lấp bồi
Nét son mưa nắng mãi thêm ngời
Bóng trăng vằng vặc tình nhân thế
Lồng lộng Tiêu Sơn Phật với Đời...
(Trước tượng đài Vạn Hạnh)
Tác giả "Dòng sông khát" cũng dành những dòng thơ đáng để người đời cùng suy ngẫm về con người, về cuộc đời và về thế sư:
Người cậy quyền đục khoét
Kẻ phải trái vờ câm
Người vì đời hỉ xả
Cùng treo thờ...chữ Tâm
(Chữ Tâm)
Và:
Nhà thầy mưa hắt, quanh tường sách
Phòng hẹp chữ tràn những khoảng xinh
Nhà bên trúng quả lên tầng bốn
Chữ gom vừa đủ ký tên mình.
Hai nỗi thiếu thừa thời hội nhập
Hai dấu than lạc giữa lộ trình!
(Hai dấu than)
Những dòng thơ chỉ ra cái "nghịch cảnh bi hài", ẩn chứa những cái "cười nụ" và sự thương cảm, đồng thời cũng hàm ẩn sự phê phán tất cả những con người này trong thời hội nhập, làm cho những người có lương tri đều phải trăn trở, xót xa vì thế sự...Liệu biết bao giờ cái nghịch cảnh bi hài này mới chấm dứt được? Chẳng lẽ lại vẫn là "một câu hỏi lớn không lời đáp" mãi hay sao?...
Tác giả "Dòng sông khát" rất dụng công trong việc lựa chọn ý tứ và sử dụng ngôn từ. Có thể chỉ ra khá nhiều những dòng thơ dễ "găm" vào tâm trí người đọc. Chẳng hạn: "Tóc em hương cỏ bời bời/Thổi tung từng đọn gió trời ...Giêng, Hai...(Thiên Thai); "Chợt hay tóc muối sương chiều/Cùng gom hơi ấm đánh liều...tìm nhau" (Chiều); "Mắt người rẽ núi xua mây/Đâu làn tóc thả gió lay biếc rừng/Ví như giữa Hội Đền Hùng/Dẫu là "phỗng đá" cũng "bùng" tìm em (Đợi); "Cách nhau chỉ một đóa hồng/Mãi thành đốm lửa đốt lòng - Người ơi!" (Khoảng cách); "Khinh dấu ngựa xe mòn lối cỏ/Tôi nhảy dù xuống trái tim em" (Tỏ tình)...Và ở khá nhiều bài có lối "chơi chữ" Anh - Việt, Việt - Anh cũng thật lí thú: "Ghé tai Anh: - Ai lớp yiu/Em cười, chẳng nói (Và chiều bỗng thơm)/Muộn rồi em giục: - "Gâu hôm"/Ngỡ là ra lệnh rằng hôn! Thế là...(Ngỏ lời);
"Giật giải hội làng vội nghĩ mình siêu hạng/Mấy mẹo vặt đã tưởng trong đầu nhiều chỉ số IQ/Chiều bỗng gặp nhau quanh bàn tiệc/Chẳng ai nói "NO" khi bụng chửa nạp gì! (Hư và thực),...
Quả thực, đây đúng là một "Dòng sông khát" thật sự! Càng đọc kỹ lại càng thấy "cái khát" đến độ cháy ruột, cháy lòng về tình yêu bốc lửa và đằm thắm, về tình mẹ sâu nặng và bao dung, về tình đời, tình người thiết tha và gắn bó,...Và có thể nói không ngoa rằng: Chừng nào "Dòng sông" này còn tồn tại, thì nó vẫn cứ khát! Đó là cái khát không chỉ cho hôm nay, mà cho cả mai sau...
Mùa Thu, 2014