Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG BỨC THƯ GỬI CHO NGÀNH GIÁO DỤC

Trích từThơ và Văn (2025)· B. Dấu ấn Danh nhân· tr.135

Đôi nét về Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chi Minh:

Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 -- 2-9-1969) là lãnh tụ Cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (tức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay), nhà báo, nhà văn, nhà thơ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. Thuở niên thiếu tên là Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Tất Thành; trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều tên khác. Sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho nghèo, thân phụ là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929), quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, là nơi có truyền thống yêu nước lâu đời và truyền thống văn học. Nguyễn Tất Thành học chữ Hán sớm, và tỏ ra rất thông minh; sau đó học chữ quốc ngữ ở Trường Quốc học Huế. Từ nhỏ, sớm có lòng yêu nước.

*Đầu 1911, bỏ học, vào dạy ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), ít lâu sau vào Sài Gòn rồi từ Sài Gòn xuất dương đi tìm đường cứu nước. Không theo con đường các chí sĩ phong trào Đông du khi ấy, ông sang Pháp và còn đi nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sống cuộc sống gian khổ của người vô sản châu Âu với nhiều nghề vất vả để sinh nhai; đã hoạt động, học tập và rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, đồng thời tìm mọi cách đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ đã ảnh hưởng quyết định đến đời hoạt động của Nguyễn Tất Thành. Năm 1918, tham gia Đảng xã hội Pháp, Thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước. Năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, gửi tới Hội nghị hòa bình họp Vecxây (Pháp) bản yêu sách nổi tiếng Quyền các dân tộc, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Trong Đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở Tua

(tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ III, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp... Tháng Tư 1927, Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô, rồi tham dự Hội nghị chống chiến tranh đế quốc ở Brucxen (Bỉ), qua Thụy Sĩ, Italia; cuối năm 1928, trở về hoạt động ở Thái Lan. Sau đó được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, ông về Hương Cảng (Trung Quốc), triệu tập Hội nghị hợp nhất, thống nhất ba tổ chức cộng sản mới ra đời ở Việt Nam khi đó thành Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930)...Tháng Hai 1941 chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám họp tại Pắc Bó (Cao Bằng), quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (tức Việt Minh), đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân để đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho dân tộc...

Ngày 2-9-1945, tại Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập tự tay mình soạn thảo, tuyên bố trước nhân dân trong nước và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội, Hồ Chí Minh được chính thức được bầu làm Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và đã giữ chức vụ đó cho tới ngày từ trần... Khó có thể đánh giá hết giá trị nhiều mặt của di sản văn học của Hồ Chí Minh. Công việc sưu tầm, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện di sản đó đang được tiếp tục tiến hành, ở trong nước và ngoài nước. Năm 1990, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liện hiệp quốc (UNESCO), đã có nghị quyết kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh - "Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa".*

Trích yếu từ Từ điển Văn học Bộ mới,

(Do Nguyễn Hoành Khung viết, tr.632-634)

**Dưới đây là bài viết của tác giả sách này:* CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG BỨC THƯ GỬI CHO NGÀNH GIÁO DỤC Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ đã dành nhiều tình cảm và tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục, bởi lẽ đây là một trong những điều mong muốn tột bậc của Người là "ai cũng được học hành"* ^(1).^ Tình cảm và tâm huyết của Bác được thể hiện qua những bài nói chuyện, những lời phát biểu, những cuộc gặp gỡ trực tiếp với các cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên,... và đặc biệt là qua những bức thư gứi cho ngành giáo dục về sự nghiệp "trồng người". Tính đến nay, kể từ khi Bác gửi bức thư thứ nhất cho học sinh vào ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9 năm

1945, đến bức thư cuối cùng "Thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới", ngày 16 tháng10 năm 1968, thì đã có tới hàng chục bức thư dành riêng cho giáo dục. Bác chọn hình thức gửi thư với ngôn từ rất bình dị, ân cần mà nói được những điều trọng đại của đất nước cùng những điều gần gũi đời thường một cách nhẹ nhàng, thấm thía đối với sự nghiệp giáo dục. Đây là một cách làm rất đặc biệt của Bác Hồ - một người được coi là bậc Đại trí, Đại nhân và Đại dũng của dân tộc ta. Đọc những bức thư Bác gửi cho ngành giáo dục, mỗi người đều có những cảm nhận riêng, nhưng cái bao trùm tất cả mà ai cũng nhận ra là tấm lòng bao la, thấm đẫm chất nhân văn cao cả của Bác dành cho giáo dục nước nhà. Đối với học sinh, tấm lòng của Bác được thể hiện ngay trong bức thư

đầu tiên gửi cho học sinh vào tháng 9 năm 1945: "Các em hãy nghe lời tôi, lời của một người anh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang. Trong năm học tới đây, các em hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn. Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em". Ở cuối bức thư này, Bác còn viết thêm : "*Tôi đã thành thực khuyên nhủ các em. Mong rằng những lời của tôi được các em luôn

luôn ghi nhớ" (Thư gửi cho học sinh, 1945). Quả thật, đó là những lời khuyên nhủ, niềm mong ước cháy bỏng xuất phát từ đáy lòng của người đứng đầu Chính phủ ở buổi đầu thành lập nước. Và lời khuyên ấy của Bác đã được nhiều thế hệ học sinh làm theo trong công cuộc kháng chiến kiến quốc cực kì gian khổ nhưng cũng nhiều kì tích của dân tộc ta. Đối với lãnh đạo, quản lí giáo dục, Bác thường có lời khen ngợi : "Các ông Hiệu trưởng và anh chị em giáo viên, cùng các cháu học trò, đã áp dụng Học với Hành, đã thực hiện kháng chiến bằng văn hóa, văn hóa của kháng chiến" ("Thư gửi Ty giáo dục, các Hiệu trưởng, giáo viên và các cháu học trò Khu10", 1948) ^(2)^... Nhưng sau những lời khen ngợi, Bác luôn đưa ra những ý kiến mang tính chỉ đạo rất cụ thể : "Chúng ta cần phải có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc. Vì vậy, chúng ta : 1.

Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc; 2. Muốn như thế, chúng ta phải có sách kháng chiến và kiến quốc cho các trường; 3. Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc; 4. Chúng ta phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ kháng chiến và kiến quốc" (Thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc, 1948). Bác cũng nhắc nhở : "Đại hội nên kiểm thảo kĩ công tác "cải cách" về chương trình, chủ trương và cách thi hành để tìm thấy những khuyết điểm mà sửa đổi, những ưu điểm mà phát triển thêm" (Thư gửi Đại hội giáo dục toàn quốc, 1951). Và Bác cũng không quên căn dặn : "...Để thu kết quả tốt đẹp thì Hội nghị cần phải nắm vững mấy vấn đề chính do Bộ đề ra, đi sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm. Mỗi chủ trương công tác đều

phải căn cứ vào tình hình thực tế, vào kinh nghiệm rất phong phú của quần chúng, của cán bộ, của địa phương" (Thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc, 1955). Bên cạnh việc gửi thư cho các vị lãnh đạo ngành giáo dục, Bác cũng quan tâm tới một vài lĩnh vực khá đặc biệt của giáo dục nước nhà. Đó là bình dân học vụ, bổ túc văn hóađào tạo giáo viên. Về bình dân học vụ, Bác từng nói : "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"* ^(3)^. Bác nói điều này trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào ngày 3-9-1945. Bác nêu vấn đề giáo dục, chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới. Vì vậy, ngày 8-9-1945, Bác đã kí 3 Sắc lệnh quan trọng về giáo dục, đó là : Sắc lệnh về việc thành lập Nha Bình dân học vụ; Sắc lệnh quy định mỗi làng phải có lớp học bình dân và Sắc lệnh

cưỡng bức học chữ quốc ngữ không mất tiền. Bác cho rằng : "Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ". Bác cũng nói : "Dốt thì dại, dại thì hèn; vì không chịu dại, không chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới" ^(4)^. Chỉ riêng về bình dân học vụ, Bác đã có hàng loạt thư để khen ngợi, căn dặn và yêu cầu rất kịp thời. Đó là những : "Thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ" (1946); "Thư gửi ông Trưởng Ty Bình dân học vụ Hà Tĩnh" (1948); "Thư gửi nam nữ chiến sĩ bình dân học vụ" (1948); "Thư gửi phái đoàn diệt giặc dốt hoạt động ở Bắc Giang" (1949);

"Thư gửi Nha bình dân học vụ" (1951); "Thư gửi các cụ 'Phụ lão diệt dốt' xã Nam Liên, huyện Nam Đàn Nghệ Tĩnh" (1958)... Bác không chỉ gửi thư, mà hàng năm Bác rất quan tâm theo dõi việc tổng kết thành tích của công tác bình dân học vụ để động viên kịp thời những tập thể, cá nhân, từ các cháu nhỏ đến các cụ già trong việc học chữ. Do có sự quan tâm đặc biệt của Bác, do có sự cố gắng, quyết tâm của các "Chiến sĩ diệt dốt", nên chỉ trong ba năm, từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1948 đã có tới 8 triệu người thoát nạn mù chữ. Đó quả là một kì tích! Bác đánh giá rất cao "kì tích" này, nhưng cũng vẫn đặt ra yêu cầu mới cho công tác này : "*Về Bình dân học vụ, nhờ sự hi sinh cố gắng của nam nữ giáo viên, đã có kết quả rất tốt đẹp. Bây giờ số đông đồng bào đã biết đọc biết viết thì chúng ta phải có một chương trình để nâng cao thêm trình độ văn hóa phổ

thông cho đồng bào" (Thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc, 1948). Diệt giặc dốt là một mặt trận không có tiếng súng, không có tiếng tăm lừng lẫy nhưng rõ ràng là một công việc quan trọng, nó có tác động đến chiều sâu của sự tiến bộ và sự phát triển văn hóa xã hội như Bác đã từng nhận định : Thanh toán nạn mù chữ là bước đầu nâng cao trình độ văn hóa. Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Về Bổ túc văn hóa, Bác đề cập tới vấn đề này ở nhiều bài nói, bài viết, nhưng tập trung hơn cả là ở hai bức thư. Trong bức thư thứ nhất, Bác cho rằng : "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản

xuất. Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kĩ thuật thì phải có văn hóa. Vì vậy công việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết". Đây cũng là một công việc rất khó khăn. Vấn đề Bác đặt ra là mỗi người không thể bằng lòng với chút vốn văn hóa đã có của mình, mà phải luôn luôn học tập, không ngừng học tập để bù đắp cho những khiếm khuyết về tri thức mới mà mỗi người đều phải cập nhật, có như thế mới đủ sức để gánh vác những công việc được giao một cách có hiệu quả. Bác cũng xác định : "Công việc bổ túc văn hóa đối với người dạy và người học đều có khó khăn hoặc ít hoặc nhiều. Nhưng với quyết tâm và tinh thần xã hội chủ nghĩa thì khó khăn gì cũng khắc phục được, và bổ túc văn hóa nhất định sẽ thành công"* (Thư gửi các đồng chí cán bộ và giáo viên bổ túc văn hóa, 1959).

Sang bức thư thứ hai, Bác căn dặn : "...Văn hóa giáo dục phải phát triển mạnh để phục vụ yêu cầu của cách mạng. Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Các đồng chí cán bộ và các cháu phải thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ trên mặt trận ấy. Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lí luận phải liên hệ với thực tế" (Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa, 1960). Thư của Bác về vấn đề bổ túc văn hóa không có gì là cao xa, mà ở đó có đầy đủ cả nguyên lí, phương châm giáo dục, và không có gì phải đắn đo để nghĩ rằng đó cũng chính là "triết lí" cho nền giáo dục của chúng ta.

Về đào tạo giáo viên, Bác có sự quan tâm đặc biệt tới ngành học sư phạm và coi việc xây dựng các cơ sở đào tạo giáo viên là hết sức cần thiết. Thực tế đã cho thấy rất rõ điều này. Trường ĐHSP Hà Nội chính thức được thành lập ngày 11-10-1951 theo Nghị định của Bộ Quốc gia giáo dục. Nhưng quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường lại được bắt đầu từ một sự kiện quan trọng, đó là vào ngày 10-10-1945, tức là chỉ hơn một tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác đã kí Sắc lệnh thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là đào tạo giáo viên Văn khoa Trung học. Và chỉ một năm sau đó, vào ngày 8-10-1946, Bác đã kí Sắc lệnh số 194/SL thành lập ngành học Sư phạm, đào tạo giáo viên cho các bậc học cơ bản, trung học phổ thông, trung học chuyên khoa, thực

nghiệm và chuyên nghiệp trong toàn quốc. Việc thành lập Ban Đại học Văn khoa - tổ chức tiền thân của Trường ĐHSP Hà Nội, mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển của ngành Sư phạm cách mạng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ đối với sự nghiệp giáo dục. Sau này, nhà trường còn có vinh dự được hai lần đón Bác về thăm (năm 1960 và năm 1964). Lời căn dặn của Bác đã trở thành niềm tự hào và mục tiêu phấn đấu không ngừng của nhiều thế hệ cán bộ và sinh viên của Nhà trường trong suốt quá trình xây dựng và phát triển. Bác nói : "Làm thế nào để Nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước" và *"Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không được đăng trên báo, không được thưởng Huân chương, song những

người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh". Trong quá trình phát triển, dù đã nhiều lần đổi tên : Trường Sư phạm Cao cấp, Trường ĐHSP Hà Nội 1, Trường ĐHSP-ĐHQG Hà Nội và Trường ĐHSP Hà Nội như ngày nay, Nhà trường vẫn luôn đứng ở vị trí là trường ĐHSP đầu ngành, trọng điểm, cái nôi, chiếc máy cái của ngành Sư phạm cả nước. Hàng chục vạn giáo viên các cấp, các chuyên gia giáo dục, trong đó có nhiều nhà hoạt động chính trị có uy tín, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, mà tên tuổi của họ đã làm rạng danh nền học vấn nước nhà. Điều đó càng cho thấy tầm nhìn chiến lược về giáo dục của Bác Hồ là vô cùng đúng đắn. Bác còn có một thư đặc biệt nữa cho ngành Sư phạm : "Thư gửi các học sinh Trường Sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp Trường khai giảng". Đây là đối tượng đặc biệt được Bác quan tâm. Bác căn dặn : "Các cháu thuộc

nhiều dân tộc và nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con em của đại gia đình chung : là đại gia đình Việt Nam; đều có một Tổ quốc chung : là Tổ quốc Việt Nam". Và "Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà". Đồng thời, Bác cũng giao nhiệm vụ : "Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần cho việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta". Trong thư này, tinh thần đoàn kết được Bác nhắc đến nhiều. Hơn ở đâu hết, với các học sinh Trường sư phạm miền núi càng cần phải nhấn mạnh tinh thần này. Đây cũng là điều nằm trong nguồn mạch chung như Bác đã từng nêu trong khẩu hiệu với 14 chữ : "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết -

Thành công, thành công, đại thành công". Đó là khẩu hiệu đầy ý nghĩa chiến lược đã được các thế hệ tiếp nối nhau của cả 54 dân tộc anh em thuộc lòng và nhất mực làm theo. Đối với các Giáo sư và sinh viên Bác cũng có: "Thư gửi Giáo sư và sinh viên dự bị đại học ở Thanh Hóa" (1952) để căn dặn : "Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân. Các cháu thì học tập gắn liền với thực hành để mai sau thực hiện mục đích cao quý : thực thà phụng sự nhân dân". Và trong "Thư gửi Giáo sư, học sinh cán bộ thanh niên và nhi đồng" (1955) nhân dip vào năm học mới 1955, Bác có nhiều điều căn dặn chung cho toàn ngành giáo dục và có những chỉ dẫn riêng cho từng cấp học. Điều căn dặn chung Bác viết : "...Phải ra sức tẩy sạch

ảnh hưởng giáo dục nô dịch còn sót lại như : Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ. Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân. Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân". Đối với mỗi cấp học, Bác chỉ rõ : - "Đại học thì cần kết hợp lí luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lí luận và hoa học tiên tiến của các nước, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà; - Trung học* thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống

thực tế; - Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi : Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt giữ gìn sức khỏe cho các cháu". Những điều Bác căn dặn từ năm 1955 mà nhiều năm qua giáo dục nước nhà vẫn gắng công thực hiện trong việc xây dựng mục tiêu, nội dung và tìm kiếm, đổi mới phương pháp dạy học. Ngoài những bức thư kể trên, còn phải kể đến một thư rất đặc biệt cho một đối tượng cũng khá đặc biệt : "Thư gửi các cháu và các cán bộ các trường miền Nam". Đây là thời kì Đảng và Nhà nước chủ trương đưa học sinh miền Nam ra học tập ở miền Bắc, để ươm những "Hạt giống đỏ" cho ngày xây dựng lại đất nước khi thống nhất. Trong thư Bác căn dặn nhiều

điều đối với cả cán bộ và học sinh về đoàn kết, yêu lao động, giữ kỉ luật, tự lực cánh sinh, yên tâm công tác, thương yêu các cháu...Và Bác căn dặn chung : "Trong thời gian ở đây, gần Đảng, gần Chính phủ, gần Bác, các cháu và các cô, các chú nên hăng hái học tập và công tác, sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, trở lại quê hương, các cháu và các cô, các chú đều là những người gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác". Thấm nhuần lời căn dặn ấy, nhiều cán bộ và học sinh miền Nam làm việc và học tập trên miền Bắc đã trở thành những trụ cột cho công cuộc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước . Sau cùng, là bức thư Bác gửi cho ngành giáo dục vào đầu năm học 1968-1969, đây cũng là lúc đế quốc Mĩ điên cuồng đánh phá miền Bắc, nhưng các trường vẫn có nhiều cố gắng trong việc thi đua dạy tốt và học

tốt, bảo đảm an toàn cho thầy và trò làm cho đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ. Nhiều người cho rằng bức thư này được coi như là Di chúc của Bác Hồ cho ngành giáo dục nước nhà. Nói được điều này bởi vì đây là thư cuối cùng Bác gửi cho ngành giáo dục. Trong thư, Bác gần như đã tổng kết một số quan điểm của Người về giáo dục, đào tạo và quản lí giáo dục. Bác viết để căn dặn từng điều thật cụ thể như sau : -"Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kì nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân trao cho, luôn luôn cố gắng cho xứng đáng với đồng bào miền Nam anh hùng. *- Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền

tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kĩ thuật. - Các cô các chú, các cháu phải cùng nhau tổ chức và quản lí đời sống vật chất và tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn, tăng cường bảo đảm sức khỏe và an toàn". Sau những điều căn dặn cụ thể như trên, Bác căn dặn một cách khái quát hơn : "Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa trò với nhau, giữa cán bộ các

cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. \ Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp Đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới". Rõ ràng bức thư này đúng là Di chúc* của Bác Hồ cho toàn ngành giáo dục Việt Nam. Nhìn lại những bức thư^(5)^ Bác viết cho ngành giáo dục với nhiều đối tượng khác nhau, ở thư nào Bác cũng có lời thăm hỏi, chúc mừng, khen ngợi, căn dặn, chỉ dẫn, định hướng, mong mỏi, yêu cầu,...nhưng ở từng

nội dung đều ẩn chứa những tình cảm và tâm huyết của Bác dành cho giáo dục. Những lời Bác căn dặn vẫn như còn tươi mới tính thời sự, mà cả ngành giáo dục hôm nay vẫn phải gắng công phấn đấu để đổi mới căn bản và toàn diện thật sự có hiệu quả. Chỉ có như vậy mới mong đáp đền được công ơn to lớn của Bác đã dành cho sự nghiệp "trồng người" của nước nhà. Bác đã đi xa nhưng lời Bác dặn vẫn được các thế hệ lãnh đạo và quản lí giáo dục, các thầy cô giáo và học sinh luôn ghi nhớ. Đọc những bức thư của Bác càng thêm thấu hiểu tấm lòng của Bác với Giáo dục, với Dân, với Nước và luôn mong muốn làm theo lời Bác...

Hà Nội, Tháng 5 năm 2013

================= (1). Bác Hồ trả lời các nhà báo, năm 1946 : "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". (2). Khu 10 gồm các tỉnh : Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên.

(3). Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB CTQG,1995, Tập IV, tr. 8.

(4). Sđd, Tập VIII, tr.64.

(5). Phần lớn những bức thư của Bác Hồ đều lấy từ cuốn "Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục", NXB Giáo dục, 1990.