Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

DẤU ẤN CỦA CÁC THẦY CÔ KHOA VĂN NGÀY ẤY TRONG TÂM TRÍ CHÚNG TÔI

Trích từThơ và Văn (2025)· B. Dấu ấn Danh nhân· tr.180

Tiểu dẫn:

Tôi rời ghế nhà trường phổ thông, bước vào Ngành Sư phạm từ Khoá học 1965-1968, là Khoá thứ XV của Khoa Văn, Trường ĐHSP Hà Nội 1, còn được gọi là "Khoá học Chống Mĩ cứu nước", vì được đào tạo đúng vào lúc nhân dân ta đang tiến hành cuộc Kháng chiến chống giặc Mĩ xâm lược. Tôi vào nghề dạy học và học ngành Văn là do sự yêu thích, chứ vốn liếng thì chưa có là bao. Suốt trong những năm học ở Khoa Văn, tôi cùng nhiều các đồng môn được các thầy cô truyền dạy cho những kiến thức và phương pháp học tập rất quý báu. Các thầy cô (không hẳn là tất cả) mà tôi được học hỏi, ở một "điểm nhìn" nào đó cho phép, thì có thể coi các vị ấy như là những "Danh nhân" theo đúng nghĩa. Dưới đây, chỉ là một đôi nét ghi nhận về những "dấu ấn" của các thầy cô đã để lại trong tâm trí tôi, và cũng coi như là những "kí hiệu tri ân" về các vị ấy...

Đã hơn năm chục năm rồi kể từ ngày ấy, khi tôi và các bạn mình trở thành sinh viên của Khoa Văn, Trường ĐHSP Hà Nội 1. Rời Trường cấp III Nguyển Gia Thiều ở Gia Lâm, để đến với Khoa Văn, Trường ĐHSP Hà Nội 1 ở tít tận phía Cầu Giấy đối với tôi là một sự kiện lớn trong đời. Rất nhiều cái xa lạ, mới mẻ về môi trường học tập với nhiều thầy cô, nhiều bạn mà chưa hề quen biết. Nhập học vào Khoa Văn, nhưng ban đầu phải học những môn chung theo chương trình đào tạo là Triết học, Tâm lí học. Những môn này phải học chung với nhiều sinh viên của các khoa khác, hàng mấy trăm con người, ở hội trường nhà lá rộng lớn mênh mông. Nghe giảng bài các môn học mới, lại nghe "qua loa" (các thầy giảng bài bằng micro), mà còn ngồi ở xa bục giảng của các thầy, thì chẳng khác nào như "Cóc vái Giời", nên tôi và nhiều bạn cứ như vịt nghe sấm, có ghi có chép mà chẳng hiểu gì.

Các thầy Nguyễn Phú Giầu, Trương Anh Tuấn, Phạm Hoàng Gia...đều thao thao lời giảng, nghe thì thấy hay, nhưng hay ở cái gì, ở chỗ nào thì còn rất mơ hồ trong cái biển kiến thức ấy. Chỉ sau này, khi đọc sách thì mới hiểu các thầy đã nói cái gì, ở đâu và nói thế nào...

Những cái lạ và mới cứ được quen dần theo từng ngày...Và rồi cũng xong những môn chung, chúng tôi được trở về Khoa với nơi ở là nhà A7 và những chiếc "giường tầng". Thời ấy có câu: "Ai sinh ra cái giường tầng / Đã muốn nằm dưới, thì đừng nằm trên...". Tôi chọn ở tầng trên, gần anh Nguyễn Tất Tráng, là cán bộ đi học, là tổ trưởng của một trong ba tổ của lớp Văn D, do anh Đào Duy Mẫn, cũng là cán bộ đi học, làm lớp trưởng. Về Khoa Văn cũng phải học chung, nhưng hội trường nhỏ hơn, cũng nghe giảng được ít nhiều về Văn học dân gian, văn học cổ điển Việt Nam và Trung Quốc...Hình ảnh các thầy Đỗ Bình Trị, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Nghĩa Dân, Trần Xuân Đề...đến với chúng tôi trong giai đoạn này. Thế rồi, chẳng mấy chốc, học kì I cũng qua đi, cũng là lúc đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Để an toàn cho việc đào tạo, Trường ĐHSP Hà Nội 1

cũng như nhiều trường khác đều phải tìm nơi sơ tán khỏi Thủ đô. Khoa Văn, Khoa Sử...được bố trí về Hưng Yên. Chúng tôi được về xã Nguyên Hòa, huyện Phù Cừ bên bờ sông Luộc. Nơi ở của chúng tôi là hai làng Sĩ Quý và Thị Giang. Nơi học của chủng tôi là đình làng Thị Giang. Đình rất to và đẹp với những cây cột gỗ lim to vập vạp, những mũi đao đình cong vút hướng lên trời cao...Khối sinh viên mới hồi ấy được chia thành 3 lớp: A & B / C & D / và E & G, nhưng phải học chung ở đình Thị Giang. Đình rộng, người đông, nhưng nếu đến sớm thì được ngồi gần bàn các thầy cô giảng bài, nghe cũng tường tận hơn. Còn đi muộn, ngồi xa thì chỉ nghe lõm bõm, câu được câu chăng, cứ phải ghé tai hỏi người bên cạnh xem thầy nói gì để ghi lại. Bàn và ghế ngồi chỉ có dành cho thầy, còn sinh viên thì bàn là đôi đầu gối và ghế là guốc dép của mình. Điều kiện học hành

khó khăn như vậy, nên ai cũng phải cố gắng để có kết quả mong muốn. Tôi còn nhớ hồi ấy, khi trả bài Làm văn, cô **Nguyễn Thị Hoàng** cho tôi điểm chín (9) và có nêu một vài nhận xét trước cả lớp. Tôi sửng sốt, vì nghĩ mình nghe nhầm, cái đó phải là các anh chị cán bộ đi học, chứ sao lại là tôi! Một chị ngồi cạnh nhắc: Cô đang nói về bài của cậu đấy! Tĩnh trí lại, tôi cứ thấy ái ngại và xấu hổ thế nào ấy, trong lòng cứ nghĩ rằng: Cô chấm nhầm!..Thế rồi những giây phút ấy cũng mau qua. Tôi tự nhủ: Nếu là thật thì phải cố gắng nhiều hơn cho các môn học khác nữa...Sau này, khi được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại Khoa Cấp II của Trường, tôi có dịp được gặp lại cô khi cùng học với cô ở lớp Chuyên tu Nga văn do Trường mở dành riêng cho cán bộ giảng dạy. Cô trò gặp lại nhau thật vui vẻ. Tôi lại nhớ về cái giờ học ngày ấy. Còn cô, chẳng biết

có còn nhớ hay là đã quên...Thông thường thì, học trò bao giờ cũng nhớ các thầy cô với những dấu ấn của thời đi học...

Không lâu sau, chúng tôi được chuyển về xã Cộng Hòa, huyện Yên Mĩ cũng thuộc tỉnh Hưng Yên, để ở gần các lớp "Văn Bốn" (lớp đầu tiên thử nghiệm đào tạo 4 năm); "Văn Bồi" (lớp các anh chị là giáo viên cấp III được về bồi dưỡng để nâng cao trình độ); và đặc biệt là để ở gần Ban Chủ nhiệm Khoa ở thôn Quần Ngọc, cho việc quản lí được thuận lợi. Lớp chúng tôi C & D được sắp xếp ở thôn Tam Trạch, lớp A & B ở làng Cầu Thôn, lớp E & G ở thôn Xuân Tảo (xa nhất với Ban Chủ nhiệm Khoa, được gọi vui là "Mũi Cà Mâu" của Khoa). Lớp học của chúng tôi được đặt ở cạnh Chùa làng Tam Trạch, được dựng bằng tranh tre nứa lá; xung quanh lớp được đắp tường đất cao chừng một mét để phòng tránh bom Mĩ. Ở đây, chúng tôi được học với nhiều thầy cô hơn. Mỗi thầy cô đều để lại trong chúng tôi những dấu ấn riêng.

Thầy **Hoàng Tuệ** dạy Tiếng Việt. Tôi còn nhớ trong một buổi ngoại khóa, dưới ánh sáng của những chiếc đèn dầu ở cái sân gạch khá rộng của một gia đình tại thôn Tam Trạch, thầy nói chuyện về cái hay, cái đẹp của tiếng ta. Thầy nói đôi chút về ngôn ngữ nói chung và tiếng ta nói riêng, rồi thầy lấy Truyện Kiều để làm ví dụ. Tôi rất nhớ khi nói về Truyện Kiều, thầy bảo rằng trong truyện có rất nhiều "điển tích", cần hiểu cho thật tường tận, nếu không thì coi như chưa thâu thái được hết những cái hay của văn chương Truyện Kiều nói riêng và văn chương cổ Việt Nam nói chung. Sau đó, thầy lấy hai ví dụ để giảng giải cho chúng tôi: Một là câu: "Gieo thoi trước chẳng giữ giàng / Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai". Và câu: "Ra tuồng trên bộc trong dâu / Thì con người ấy ai cầu mà chi". Bằng giọng nói miền Trung trầm ấm, thầy kể về các điển tích và lần

lượt phân tích, giảng giải cho chúng tôi về cái hay, cái đẹp của việc dùng điển tích trong văn chương ngày xưa, nó tạo nên độ hàm súc, nói được nhiều ý mà tốn ít lời như thế nào...Thầy say sưa nói như không hề để ý đến trời đã về khuya, sương lạnh đã buông xuống. Chúng tôi thì như bị cuốn hút theo lời thầy cũng quên cả thời gian. Mấy anh cán bộ lớp đành đánh bạo nhắc thầy, để thầy dừng lại và đưa thầy về nghỉ. Một buổi nói chuyện của thầy, đầy ắp những kiến thức, đã để lại cho chúng tôi những dấu ấn khó quên. Đó cũng là điều thầy nhắc nhở chúng tôi phải cẩn trọng tìm hiểu thật kĩ càng khi nói hoặc viết một điều gì cho cái nghề dạy học Văn mà chúng tôi lúc đó mới ngấp nghé bước vào...

Thầy **Đinh Trọng Lạc** đến với lớp chúng tôi trong một ngày giá rét. Thầy mặc chiếc áo khoác ngoài bằng vải kaki rất ngắn, chúng tôi cảm thấy dường như không đủ ấm cho thầy. Thầy giảng giải khá tường tận về một số biện pháp tu từ, rất cần thiết cho việc dạy học Văn. Thầy giảng lí thuyết rồi vận dụng vào phân tích các ví dụ lấy từ ca dao, tục ngữ và các tác phẩm văn học. Cách dắt dẫn của thầy thật hấp dẫn, sinh động, làm cho thầy và cả lớp chúng tôi như đều quên đi gió rét đang thổi vù vù ngoài trời trong một ngày đông giá lạnh...

Thầy **Nguyễn Đức Nam* giảng văn cho chúng tôi về thiên kí sự "Viết dưới giá treo cổ*" của Julius Fucik - một nhà lãnh đạo, một chiến sĩ cộng sản Tiệp Khắc trong nhà tù của phát xít Đức. Đó là hình ảnh của một chiến sĩ cộng sản mà hàng ngày phải chịu những cuộc tra tấn, chết đi sống lại, những thủ đoạn làm mềm lòng người chiến sĩ kiên cường, dứt khoát không chịu đầu hàng kẻ thù tàn bạo. Trái tim của Fucik luôn hướng về đồng chí, đồng đội. "Viết dưới giá treo cổ" là một tác phẩm văn học thực sự, là hiện thân của chủ nghĩa cộng sản trên văn đàn. Chúng tôi lấy làm lạ, bởi đây là một tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, nhưng thầy đã khai thác những yếu tố nghệ thuật để xây dựng nên hình tượng người chiến sĩ cộng sản bất khuất trước kẻ thù tàn độc. Giọng thầy giảng đầy xúc cảm, cuốn hút. Nhà cùa lớp học thì thấp, dáng thầy thì cao, có lúc tay

phải của thầy đặt trên vì kèo, tay trái của thầy chống bên sườn, nên trông rất hào hoa, tài tử. Chúng tôi cứ như bị dẫn dụ vào bài giảng của thầy, và cũng "chụp hình" được phong thái của thầy trong suốt hai tiết giảng văn. Phải chăng, đó cũng cái để chúng tôi thêm yêu thích văn chương và yêu cái nghề dạy học Văn này qua việc được thụ giảng từ một người thầy?!...

Sau này, vào năm 1982, tôi về công tác ở Ban Nghiên cứu Cải cách Sư phạm của Bộ Giáo dục (tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Giáo Viên), lúc đó thầy Nguyễn Đức Nam là Phó trưởng Ban, trực tiếp quản lí Tổ nghiên cứu về các bộ môn Khoa học xã hội, gồm 9 người, mà tôi là một thành viên. Lệ của Tổ là cứ trong một tháng thì có một kì sinh hoạt khoa học, ở đó, mỗi người phải đem đến trình bầy 1 thông tin khoa học. Đó cũng được coi là một tiêu chuẩn thi đua. Thầy chủ trương không quản lí con người cứ phải đủ 8 giờ có mặt ở cơ quan mỗi ngày, gắn chặt với cái bàn của mình, mà quản lỉ bằng sản phẩm do mỗi người làm được. Có một vị phó trưởng Ban khác không đồng tình. Thầy rất thẳng thắn bảo rằng: Yêu cầu nhân viên phải có mặt hàng ngày bên cái bàn của họ chỉ là quản lí "phần xác", còn "phần hồn" thì không thể, đó là cách làm "ngu xuẩn". Một lần khác, trong

sinh hoạt khoa học của Tổ, có cô học trò là thành viên rất thích ăn diện, làm dáng, nhưng báo cáo khoa học thì qua quýt, không đâu vào đâu, thầy cũng rất thẳng thắn bảo: Làm khoa học khác với làm đỏm, không đùa được! Cô học trò bướng bỉnh cãi lại. Thầy nói như mắng: Làm không ra gì thì đừng có "trâng trâng" mà cãi, không tự rèn luyện thì chẳng làm gì ra hồn đâu! Cả Tổ cứ trố mắt hết nhìn thầy rồi nhìn cô học trò kia. Nhưng quả là thuốc đắng đã tật, cô học trò ấy trở nên biết điều hơn, làm việc chỉn chu hơn. Làm việc với một người thầy như vậy, đôi khi cứ tưởng là áp lực, nhưng thực ra lại rất được việc cho mỗi cá nhân và cho cả tập thể cơ quan...

Thầy **Nguyễn Đình Chú** không chỉ dạy chúng tôi về văn chương, mà còn dạy chúng tôi cách tiếp cận công việc của người làm nghiên cứu khoa học. Đó là cách làm "Hồ sơ học tập". Theo cách học này, khì học về một tác giả, tác phẩm, hoặc đề cập đến một vấn đề khoa học nào đó, thì đều cần lập một hồ sơ. Hình thức của hồ sơ đó như thế nào thì tùy (là một phong bì to, hoặc một kẹp giấy), để khi nghe được, đọc được, nghĩ ra được...cái gì theo những vấn đề đã xác định, thì cứ tích cóp dần bỏ vào hồ sơ đó. Đến khi hồ sơ đã khá dầy dặn, suy nghĩ về cái định viết đã khá chín chắn, thì mang ra để xử lí. Làm như vậy sẽ không mất thì giờ tìm kiếm tài liệu nữa, mà chỉ để tập trung vào lập luận, cấu trúc nhằm giải quyết vấn đề đã được nung nấu. Cách thức này là công việc có tính "bếp núc" rất cần thiết cho việc học trước mắt, và cũng có ý nghĩa lâu dài

cho công việc nghiên cứu nếu ai muốn đi theo...

Thầy **Nguyễn Đăng Mạnh** dạy chuyên đề: "Phương pháp nghiên cứu một tác giả". Tôi và một anh bạn nữa từ nơi sơ tán về học. Bài giảng của thầy rất mạch lạc. Thầy chỉ rõ cách thức tiến hành nghiên cứu một tác giả: Có lúc phải đi từ cái lớn đến cái nhỏ, có lúc phải đi ngược lại; phải đọc để tìm ra những nét đặc sắc của mỗi nhà văn, để khi đề xuất các luận điểm thì phải có cái minh chứng cho rõ ràng, có sức thuyết phục. Thầy cũng bảo: Nghiên cứu một tác giả thì phải dầy công cho việc đọc để chỉ ra được nét độc đáo, đặc sắc của tác giả đó; nét độc đáo, đặc sắc ấy có xuất hiện nhiều lần và lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của nhà văn hay không. Nếu phát hiện ra được với những minh chứng đầy đủ là đã thành công, tức là đã chỉ ra được "phong cách" của tác giả đó. Nghe thầy giảng, tôi cứ ngẫm nghĩ: giá như điều này mình có được sớm hơn thì hay

biết mấy! Thầy **Nguyễn Văn Hạnh** đến lớp chúng tôi với một buổi ngoại khóa về lí luận văn học. Thầy kể chuyện khi thầy học ở Liên Xô và bảo vệ luận án như thế nào, cách thức sinh hoạt học thuật của nước bạn ra sao. Thầy khẳng định: Sinh hoạt học thuật ở một cơ quan nghiên cứu hay một trường đại học với những Tổ bộ môn là hết sức quan trọng. Mỗi điều suy nghĩ, mỗi bài viết ra nếu được trình bầy ở Tổ bộ môn đều rất có lợi, nó sẽ được bổ sung hoặc điều chỉnh cho phù hợp khi giảng dạy, khi đăng báo hoặc viết sách. Chỉ một buổi ngoại khóa, nhưng thầy đã đem lại cho chúng tôi những cách suy nghĩ tích cực về con đường học thuật mà mình muốn theo...

Thầy **Nguyễn Hoành Khung** dạy chúng tôi về Văn học hiện thực phê phán. Thầy có dáng vẻ của một thư sinh. Thầy giảng bài thật khúc chiết, mạch lạc, nghe văn nói mà như văn viết, rất có sức thu hút người nghe. Tôi còn nhớ khi bảo vệ Luận văn bước một, tức tương đương Thạc sĩ bây giờ, với đề tài: "Thể lục bát trong thơ Tố Hữu", thầy là thành viên Hội đồng chấm. Thầy nhận xét những ưu điểm và cũng chỉ ra những chỗ chưa thật đầy đủ. Thầy bảo: Thơ lục bát của Tố Hữu có nhiều cái hay, có nhiều nét cách tân, ít nhiều anh đã nêu ra được và chứng minh được. Nhưng nếu anh đi thêm một chút nữa để so sánh sự cách tân của Tố Hữu có gì đặc biệt khác với những người cũng từng làm cho câu thơ lục bát có sự thay đổi so với truyền thống. Ví dụ câu thơ: "Trời cao, xanh ngắt. - Ô kìa / Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai" của Thế Lữ, trong bài "Tiếng sáo

Thiên Thai" (1941). Hoặc của Nguyễn Bính: "Cái gì như thể nhớ mong? / Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng!" (Người hàng xóm, 1940). Nếu làm được sự so sánh ấy thì sẽ làm nổi bật hơn những đóng góp của Tố Hữu cho thể thơ này. Lời nhận xét của thầy giúp tôi có cách nhìn nhận rộng hơn, xa hơn và ít nhiều có liên quan đến văn học so sánh. Đó cũng là điều tôi ghi nhận để làm cho những công trình sau này được tốt hơn...

Cô **Trịnh Thu Tiết** là một người mà chúng tôi cũng thể nào quên. Cô dạy Văn học Việt Nam cho lớp chúng tôi. Cô nhỏ người nhưng nhanh nhẹn, có giọng nói rất trong trẻo, khi ấy cô đang mang bầu con trai đầu lòng (nay là PGS.TS. Đỗ Hải Phong - Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn), nhưng không quản ngại đường đi khó từ Quần Ngọc xuống Tam Trạch vào lúc chập tối (vì ban ngày phải tránh trú máy bay Mĩ), để nắm bắt tình hình trước khi cô lên lớp. Lúc đó, tôi được lớp phân công làm Cán sự môn học này, được Cô gọi đến để hỏi về tình hình học hành của lớp với những lời thật giản dị, ân cần. Cô dặn: nếu có khó khăn gì về tài liệu học tập, về cách thức học thì cứ nói với Cô, giúp được đến đâu Cô sẽ giúp. Bằng cách tiếp cận ấy, Cô đã có những giờ dạy rất thành công ở lớp chúng tôi. Sau này, khi trở thành Cán bộ giảng dạy, tôi có may mắn được học cùng

với Cô ở Lớp Chuyên tu Nga văn của Trường ĐHSP; rồi lại có dịp được cùng Cô và một cán bộ khác nữa của Khoa Văn, biên soạn cuốn Văn học Tập I (Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học, Hệ Ttung học Sư phạm 9 + 3 và 9 + 4, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998). Sách gồm 320 trang. Tôi viết phần Lí luận Văn học; Cô cùng với anh Trần Quang Minh viết phần Văn học Việt Nam qua các thời kì. Nay Cô đã đi xa, song những kỉ niệm từ khi học Cô ở Khoa Văn, cùng Cô học chuyên tu Nga văn và cùng Cô biên soạn cuốn sách nhỏ, đều là những kỉ niệm khó phai mờ trong tâm trí tôi...

Để nói về các thầy cô đã dạy chúng tôi ngày ấy thì còn nhiều lắm, mỗi thầy cô một vẻ và đều đem đến cho chúng tôi những điều bổ ích và lí thú. Các thầy cô dạy chúng tôi có những cái ở cấp độ "vi mô", có những cái ở cấp độ "vĩ mô", tức ở tầm phương pháp luận, đều rất hữu ích. Sau này, khi đi Liên Xô để làm Phó Tiến sĩ (Kandidat), và đi Nga để làm Tiến sĩ khoa học (Doctor), tôi cũng được các thầy cô của Liên Xô và Nga dạy cho nhiều cách làm tương tự như các thầy cô ở nước mình. Và tôi vẫn không quên những cách làm việc, học tập mà các thầy cô của Khoa Văn đã dạy. Tôi cứ ngầm so sánh và ngẫm nghĩ: Cách thức các thầy cô dạy mình cũng chẳng khác gì các thầy cô ở phía Trời Tây!...Thì ra, chân lí thì chỉ có một. Con đường tiếp cận chân lí, dù có chút khác biệt nào đó giữa Đông và Tây, nhưng cái "Đích" phải đến đều là một điểm chung...

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2021

**Bài viết này đã in trong cuốn "Chúng tôi - Ngày ấy - Bây giờ", (Kỉ yếu nhân 70 năm Sư phạm Văn Khoa của Lớp Văn D, Khoá 1965-1968).* Các thành viên biên soạn gồm: Đào Duy Mẫn, Cao Đức Tiến, Trần Thị Dậu, Đào Công Vĩnh, Nguyễn Đức Hạnh, Bùi Kim Anh, Nguyễn Thị Kim Phong, Dương Văn Khoa, Nguyễn Văn Minh.