Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

ĐỌC "TIẾNG LÒNG" - TIẾNG CỦA YÊU THƯƠNG

Trích từThơ và Văn (2025)· C. Thẩm bình Văn chương· tr.273

(Của các tác giả Ngô Xuân Tập và Vũ Thị Kim Quy,

NXB Văn học, tập I, 2014; NXB Hội Nhà văn, tập II, 2022)

"Tiếng lòng"được hiểu như một loại âm thanh, nhưng loại âm thanh này không được cất lên cho người ta thưởng thức như tiếng sáo, tiếng đàn, mà lại là thứ tiếng rất đặc biệt, nó đòi hỏi người ta cần thực sự lắng nghe, để "chắt lọc" ra những điều muốn bộc bạch của lòng người, được vang lên qua từng trang sách, dòng thơ, con chữ...Như vậy, "Tiếng lòng"là thứ tiếng được cất lên từ một miền sâu thẳm nào đó trong cõi lòng của mỗi con người. Nếu ở trong cuộc sống thông thường, tiếng lòng có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau như: lời nói, cử chỉ hoặc một hành vi trực tiếp hay gián tiếp..., thì trong lĩnh vực nghệ thuật, nó có khá nhiều hình thức để biểu đạt như: âm thanh, màu sắc, hình khối, đường nét hoặc ngôn từ...Ở đây, đang nói đến là tiếng lòng trong thơ ca, nó thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ.

Năm 2014, cặp đôi Ngô Xuân Tập và Vũ Thị Kim Quy đã từng viết:

Bảy chục xuân qua một tiếng lòng,

Trăm năm song thọ vẫn hằng mong.

Niềm thương gửi tới nơi thôn vắng,

Nỗi nhớ hướng về chốn hội đông.

Sự nghiệp vinh quang luôn giữ sáng,

Xây đời hạnh phúc mãi còn trong,

Thăng trầm tất cả theo dòng chảy,

Giấy rách giữ lề, vốn tổ tông!

Đây là một "Tiếng lòng" xuyên suốt 2 tập thơ in chung của cặp đôi này, nay họ đều đã ở độ tuổi ngoại thất tuần. Họ có chung một "tiếng lòng", thế nhưng lại là hai tâm hồn, hai ngọn bút khác nhau, thành ra: "Tuy hai mà một, tuy một mà hai". Vậy nên, người đọc nói chung cũng như người viết bài này vẫn phải đọc riêng của từng người cho dễ nhìn, dễ nhận...

*I. Tiếng lòng của Ngô Xuân Tập Trong cả hai tập Tiếng lòng, Ngô Xuân Tập có 86 bài (trừ một số bài lặp lại (Quê Bác, Làm thầy, Mãi là anh lính cụ Hồ, Đời sông, Duyên tôi, Nhà giầu cũng khóc, Khuyên nàng Tô Thị thì còn khoảng 79 bài). Tình cảm của tác giả được thể hiện ở nhiều phương diện của đời sống như: Tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình bạn, tình đồng nghiệp, lòng kính trọng với các Danh nhân, với Đảng, với Bác Hồ, những cảm xúc về thời cuộc, về thế sự...Song nổi trội hơn cả là ở những mặt sau: *1. Tình yêu dành cho các bậc sinh thành và quê hương** Về các bậc sinh thành, tác giả có hai bài thể hiện rất rõ sự cảm thông, lòng biết ơn với cha mẹ, những người đã sinh thành và dưỡng dục cho mình nên người, dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn gian khổ của hoàn cảnh

sống. Đây là nỗi vất vả, nhọc nhằn của người cha:

Cha tôi vất vả với đàn con,

Thao thức năm canh giấc chẳng tròn.

Cuộc sống bao phen còn lận đận,

Làm ăn lắm lúc cũng không son...

(Cha tôi)

Còn đây là cảnh cả mẹ và cha lần hồi để nuôi nấng đàn con:

Mẹ cha chẳng quản gian truân,

Đêm đông giá lạnh cha chân ngâm bùn...

...Mẹ lo chạy chợ tảo tần,

Gom từng buồng chuối góp phần nuôi con...

Để rồi đến khi con trưởng thành, thì cha mẹ đã về với Tổ tiên:

Lặng thầm suy nghĩ đắn đo,

Ai cho mình được ấm no tiền đồ.

Con giờ sống giữa Thủ đô,

Thương cha, nhớ mẹ nấm mồ cỏ xanh!

(Tình cha nghĩa mẹ)

Đó là những dòng thơ thấm đẫm công cha, nghĩa mẹ...Tác giả không nói gì thêm, nhưng rất dễ để nhận ra ở đây là đầy ắp lòng biết ơn cha mẹ và những giọt nước mắt lặng thầm cứ ẩn lặn rồi chảy ngược vào trong...

Lòng biết ơn cha mẹ lại luôn gắn liền với lòng yêu quê nhà, nơi chôn nhau cắt rốn của mình...Tác giả có khá nhiều bài ghi lại tình cảm đặc biệt này (Về quê, Chiều quê, Làng Tự Lạc, Tuổi thơ tôi, Nhớ quê, Đình chùa Tự Lạc, Đồng Quần Lung,...). Trong cả chuỗi bài này, mỗi bài đều mang một nét đáng quý, đáng yêu của quê nhà, nhưng có thể coi những dòng này là nỗi niềm sâu nặng của tác giả với Quê hương, với Đất mẹ:

Sông Sò dòng nước trong xanh,

Mang bao kỷ niệm kết thành hồn quê.

Đi xa lòng vẫn nhớ về,

Cây đa bến nước, triền đê êm đềm.

Nhớ sao ngày ấy không quên,

Mẹ cha vất vả ở trên đất này...

...Nỗi niềm nhớ lắm người ơi,

Tình tôi mãi mãi trọn đời với quê!...

(Nhớ quê)

Người ta, ai cũng có một miền quê để luôn ghi tạc và nhớ về; ấy là "Chùm khế ngọt" để được "trèo hái mỗi ngày" như Đỗ Trung Quân từng viết... Tác giả Ngô Xuân Tập cũng có một miền quê rất đáng nhớ của mình: Quê ấy là cây đa, bến nước của truyền thống, quê ấy gắn liền với mẹ cha ruột thịt đã sinh ra mình và nuôi dạy cho mình lớn khôn. Đó là một Tình quê rất đáng được ghi nhận...

**2.Tình yêu dành cho Đảng, Bác Hồ và các Danh nhân của đất nước* Là người dân Đất Việt, hầu như ai cũng có trong lòng mình một tình yêu đối với Đảng, với Bác Hồ và các Danh nhân của đất nước. Tác giả Ngô Xuân Tập cũng không phải ngoại lệ. Trong Tiếng lòng của mình, tác giả có khá nhiều bài viết ghi dấu về tình yêu này: Vinh danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thăm lán Nà Lừa, Nỗi oan Ức Trai, Lê Lợi hoàn gươm, Nhớ Bác, Quê Bác, Mùa Xuân dâng Đảng,...* Đối với Đảng, là người chỉ ra đường lối và lãnh đạo thành công trên mọi phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, khoa học, ngoại giao,...đều đã được toàn dân tộc và nhiều nước trên thế giới thừa nhận, ngợi ca. Hoà chung với niềm tự hào về Đảng quang vinh, tác giả Ngô Xuân Tập có những vần thơ mừng Đảng rất trang trọng:

Mừng Đảng xuân nay thắm sắc hồng,

Trời cao lồng lộng áng mây trong.

Bốn phương bền vững yên bờ cõi,

Tám hướng xoay vần giữ biển Đông.

Đất nước vươn lên bao khát vọng,

Quê hương đổi mới những chờ mong.

Xây nền độc lập, dân no ấm,

Tổ quốc hoà bình, mạnh núi sông.

(Mùa Xuân dâng Đảng)

Viết về Bác Hồ, như có được cảm hứng từ vùng đất "địa linh nhân kiệt" quê Bác, với những sông Lam, núi Hồng, Đại Huệ, Kim Liên...tác giả đã có những dòng thơ mang đậm sự thành kính và biết ơn:

Bác đã vì dân lo nghiệp lớn,

Cháu con nên nhớ chẳng buông lơi.

Đi xa Bác dặn trong Di chúc,

Hậu thế noi theo nối tiếp đời...

(Nhớ Bác)

Viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tác giả có những dòng thơ thể hiện rõ sự kính trọng đối với một con người trí dũng song toàn của dân tộc:

Xông pha trận mạc vì dân tộc,

Đánh đuổi ngoại xâm cứu giống nòi.

Nhân nghĩa, tài năng đều đủ cả,

Hiếu trung, trí tuệ có nào vơi...

(Vinh danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Biết ơn, kính trọng đối với các danh nhân thời nay, tác giả Ngô Xuân Tập cũng không quên nhớ về những danh nhân thuở xưa. Nhớ về Lê Lợi, người anh hùng của Đất Lam Sơn, chỉ với hai dòng thơ mà khắc hoạ được cả một triều đại lẫy lừng của dân tộc:

Gươm thiêng trả lại đất trời,

Nước Nam độc lập sáng ngời Triều Lê.

(Lê Lợi hoàn gươm)

Đồng thời, Ngô Xuân Tập cũng không quên nhớ tới vị "quân sư" tài ba của vua Lê Lợi là Nguyễn Trãi, người đã dâng lên vua "Bình Ngô sách" để đánh dẹp giặc Minh; Cho đến khi toàn thắng, thì hạ bút thảo "Đại cáo bình Ngô", một áng "Thiên cổ hùng văn" còn truyền mãi tới mai sau...Nhưng số phận thật trớ trêu, Nguyễn Trãi lại phải chịu nỗi oan khiên từ "Lệ Chi viên", mà muôn đời còn nhắc tới. Riêng Ngô Xuân Tập đã bày tỏ nỗi lòng mình với Ức Trai tiên sinh bằng những dòng thơ sau:

Trời cao bỗng chốc nổi phong ba,

Nguyễn Trãi oan khiên ập xuống nhà.

Máu chảy lòng đau, thương phận mỏng,

Đầu rơi dạ thắt, xót tài hoa.

Nhà xưa sớm tối giờ hiu quạnh,

Xóm cũ ngày đêm bỗng vắng xa.

Vị mặn, chát chua đều nếm trải,

Côn Sơn thuở ấy mắt cay nhoà...

(Nỗi oan Ức Trai)

Đó quả là một sự cảm thông, một nỗi xót xa đến đắng lòng từ trong sâu thẳm đối với bậc tiền nhân vô cùng đáng kính!...

**3.Tình yêu dành cho nghề nghiệp, bạn hữu và đồng nghiệp* Đây là một phương diện không thể thiếu trong đời sống của mỗi con người. Tác giả Ngô Xuân Tập đã dành không ít những trang thơ cho mảng tình cảm này: Làm thầy, Cô giáo bản, Vui cùng thơ bạn, Viếng bạn thơ Vũ Văn Thuật,...* Ngô Xuân Tập rất tự hào và trân trọng cái nghề mình đã chọn: Nghề dạy học. Chính tác giả thừa nhận:

Làm thầy quý giá lắm ai ơi,

Chức giáo theo tôi suốt cuộc đời.

Soạn giảng say mê dồn nhiệt huyết,

Gìn vàng giữ ngọc chẳng buông lơi...

(Làm thầy)

Với đồng nghiệp ở vùng cao, tác giả cũng dành những ngôn từ rất đẹp để ngợi ca:

Quê em Trạm Tấu núi cùng non,

Đường dốc chon von lũ xói mòn.

...Cô giáo vùng cao vì nghĩa cả,

Gieo mầm con chữ rực màu son...

(Cô giáo bản)

Cũng có khi với các bạn thơ cùng nhau xướng hoạ, một thú vui của những người làm thơ: ..."Trai tài gom tứ say Đường luật / Nữ khéo tìm đường lục bát hay/... Thơ đi khắp nẻo miền non nước/ Xướng hoạ dâng trào hương ngát bay" (Vui cùng thơ bạn). Và khi bạn qua đời thì đau đớn, xót xa với những dòng thơ chí nghĩa, chí tình: ...Tình thơ còn mãi lưu muôn nẻo,

Nghĩa bạn không phai để lại đời.

Cách trở âm dương đau xót quá,

Tao đàn thi hữu nhớ khôn nguôi...

(Viếng bạn thơ Vũ Văn Thuật)

**4.Tình yêu dành cho lứa đôi* Dù viết về nhiều chủ đề khác nhau, nhưng Ngô Xuân Tập không quên một mảng dành riêng cho: Tình yêu lứa đôi. Có khi chỉ là cái tình thoáng qua ở nơi đám hội: "Yêu em má lúm đồng tiền/ Mắt đen lúng liếng cười duyên gửi lời"(Người ở đừng về); Có khi là tình yêu phải tạm cách xa để đi làm nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc: "...Xa nhau lòng vẫn vấn vương/ Dấu yêu để lại trên đường hành quân/....Dẫu rằng duyên phận trái ngang/ Trung trinh giữ tấm lòng vàng trong nhau" (Chuyện tình người lính). Về chủ đề này, Ngô Xuân Tập còn bộc lộ ở nhiều bài khác nữa: Vô đề, Bắc Ninh - miền quan họ*,...

Nhưng có lẽ, đây mới là lúc Ngô Xuân Tập "viết cho mình": Từ cái thuở "tình đầu, trong một trận mưa bất chợt, chàng vội bứt cho nàng một chiếc lá sen "làm thành chiếc nón để em che đầu"...Nhưng rồi mưa cũng tạnh, và "ta về mỗi đứa một nơi/ Trong lòng bối rối nói lời hẹn em/ Thế rồi từ đấy nên quen/ Tơ lòng giăng mắc dệt nên tình đầu!"(Tình đầu). Thơ của ngày nay, mà nghe phảng phất như có hương vị của "ca dao" tự thưở nào! Đó có thể coi là một nét đẹp, đầy hương vị lãng mạn của người làm thơ...Rồi đến: "Người trong mộng, Ấm lại những chiều đông", để rồi kết đọng lại ở Duyên tôi:

Nhớ lại duyên tôi đến với bà,

Thật nhiều mưa nắng, lắm phong ba.

Chờ cho xuân đến xanh chồi lộc,

Đợi đón thu sang thắm nụ hoa.

Gieo hạt cây đời nơi núi thẳm,

Ươm mầm con chữ chốn ngàn xa.

Ngày về tóc đã vương màu nắng,

Giữ mãi tâm trong nối nghiệp nhà.

(Duyên tôi)

Phải nói rằng, đây là những tình cảm đẹp của tình yêu lứa đôi: Có cái đẹp cứ tưởng như "vu vơ", chẳng đi đến đâu; song có ai dám chắc rằng những cái "vu vơ" ấy lại không phải kẻ dẫn lối cho người làm thơ đa cảm, đa tình đến được với tình yêu đích thực của đời mình?... Ôi, tình yêu lứa đôi sao mà diệu kỳ đến thế! Và phải chăng, tác giả Ngô Xuân Tập là người thật hạnh phúc, được thả hồn trong cái nguồn mạch tưởng như vô hình mà lại rất thực ấy?...

**5.Những cảm xúc về thời cuộc và thế sự** Ngoài những phạm vi của những tình cảm đã nói trên, trong thơ của mình, tác giả Ngô Xuân Tập còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác của đời sống với cách viết dung dị, chân phương, gửi gắm được nhiều tâm sự...

Tuy vậy, cũng có lúc tác giả thể hiện được những điều khá thú vị, giàu tính hài hước, hóm hỉnh trong những bài như: Phận Đốp, Nhà giàu cũng khóc, Khuyên nàng Tô Thị;...Có lúc lại "chơi chữ", cứ như phảng phất có phong vị của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và cả Tú Xương nữa trong chùm bài: Đâu đã già, Vịnh tranh Tiến sỹ giấy, Ngán cảnh nghèo, Chắc là toi, Chắc là teo... Có thể nói, tất cả những điều này đã tạo nên một bức tranh khá hoàn chỉnh về thơ Ngô Xuân Tập. Và ở một góc nhìn khác, tác giả đã tạo được cho mình một nét thật riêng, hay nói đúng hơn: Đó là sự thành công của thơ Ngô Xuân Tập!...

*II. Tiếng lòng của Vũ Thị Kim Quy Vũ Thị Kim Quy viết khá nhiều, con số là ngót nghét khoảng hơn 200 bài, một số lượng không hề nhỏ! Số lượng ấy phản ánh được khá nhiều phương diện của đời sống con người. Song, có thể chắt lọc và thấy rõ một số nét đặc sắc tiêu biểu dưới đây: 1. *Một Tiếng lòng đầy ắp yêu thương* Làm thơ thường là để nói lên cái ý, cái chí và cũng là để gửi gắm tâm sự của mỗi người cầm bút. Là phụ nữ, đôi khi lại có phần "đa đoan" hơn nam giới. Vũ Thị Kim Quy cũng không ngoại lệ. Tâm sự của Chị Kim Quy được bộc bạch ở khá nhiều rường mối, nhưng nỗi niềm sâu thẳm nhất và trước hết là dành cho Mẹ. Chị có nhiều bài viết về mẹ: Lời ru của mẹ, Mẹ xưa, Đò chiều, Mẹ, Đời mẹ, Nỗi đau lòng mẹ, Mẹ là vợ liệt sỹ*... Chị có

những câu như ca dao viết về mẹ: "Thân cò lặn lội bờ sông/ Cho con ăn học nối dòng cha ông/ Chắt chiu góp nhặt từng đồng/ Nào đâu mẹ có kể công tháng ngày..." (Mẹ tôi). Chị xót thương, cảm thông với nỗi buồn của mẹ. Nhớ về mẹ, Chị viết:

...Chang chang nắng lụt trưa hè,

Lời ru, tiếng mẹ giọng nghe khản rồi,

Mơ màng tay đẩy vành nôi.

Mắt quầng chôn cả một thời chiến tranh...

Rồi chị sẻ chia cùng mẹ:

...Dẫu cho vật đổi, sao dời,

Chắt chiu tình mẹ không vơi nỗi buồn.

Xế chiều níu bóng hoàng hôn,

Sẻ chia cùng mẹ cô đơn cuộc đời...

(Nỗi đau lòng mẹ)

Thương xót mẹ rồi lại thương xót cho mình: "Hững hờ ngày tháng buông neo/ Nắng nghiêng đổ xuống mái chèo cô đơn/ Tôi như một kẻ vô hồn/ Thẫn thờ đứng giữa hoàng hôn tím chiều"... Và rồi:

"Vẫn là một nửa không anh",

Sông ơi cứ chảy đò đành cách xa,

Hoàng hôn bóng xế nhạt nhoà,

Chỉ còn ký ức đi qua cuộc đời...

(Cô đơn)

Quả thật đây là sự giãi bày từ trong sâu thẳm nỗi lòng của một người cô đơn mà người đọc cũng cảm thấy lạnh ngưởi!...Có lẽ đây là một bài thơ dùng được nhiều hình ảnh, cách so sánh, phép ẩn dụ để nói về nỗi cô đơn khá đắc địa...

Thương yêu mẹ đẻ, Chị cũng rất thương cảm, quý trọng mẹ chồng. Về viếng mộ mẹ chồng, Chị viết: "Mẹ ơi! Mẹ có rét không? Thương mẹ nằm giữa mênh mông đất trời.../ Đau lòng con lắm mẹ ơi/ Chỉ còn tiếng khóc đất trời thấu cho/ Qua sông đã một lần đò/ Gặp cơn sóng cả gió to lật thuyển"...

Thế rồi, sau lời bộc bạch ấy, Chị như thủ thỉ với mẹ chồng: "Biết rằng thu cũng sắp tàn/ Đò ngang chọn chuyến con sang cuối ngày"...Và Chị khẩn cầu: "Linh thiêng cha mẹ nhiệm màu? Con xin lạy mẹ nàng dâu mới về..."

(Nỗi niềm nàng dâu).

Thương yêu những người mẹ, để rồi thương yêu người đã cho mình "một nửa cuộc đời". Chị không hề e ngại mà viết:

Anh cho em nửa cuộc đời,

Nửa thì gian khổ, nửa thời chênh chao.

Cho em một nửa tự hào,

Công danh địa vị anh trao một phần.

Có em xa xích lại gần,

Cho tình yêu giữ cán cân thăng bằng!...

(Cho em một nửa đời anh)

Tình thương yêu rộng mở của cha mẹ, vợ chồng được lan toả tới những người thân yêu, nhất là với con cháu. Tác giả Kim Quy có hẳn một chuỗi bài dành cho con cháu: Đi trông cháu trong mùa dịch covid-19, Tặng sinh nhật cháu, Thương con, Tặng con Đinh Thị Thái Quỳnh, Tặng con Việt Hưng, Mừng con, Tặng con dâu, Mừng sinh nhật cháu Ngọc Khánh, Mừng sinh nhật cháu Trần Hoàng Minh, Mừng sinh nhật cháu Trần Hoàng Dương, Mừng sinh nhật con Vũ Hoàng, Tặng con rể Đào Hồng Việt...Tình yêu thương lớn của người mẹ, người bà dành cho con cháu tưởng như không có giới hạn... Xót xa nhất là nỗi đau về đứa con hoạ sỹ tài hoa, tương lai sáng láng mà bị tai nạn, làm cho Chị mất đi một niềm hy vọng, phải gánh chịu một nỗi buồn đau tưởng như bất tận:

...Nỗi đau dai dẳng chẳng nguôi,

Thương con mẹ đã ngược xuôi tìm thầy.

Bệnh tình nặng phải bó tay,

Nằm trên giường bệnh, tháng ngày sầu đong...

(Thương con)

Vượt lên khỏi nỗi đau ấy, Chị lấy lại sự bình tâm để dạy bảo con cháu. Chị căn dặn con trai út:

...Cuộc đời tan, hợp tới lui,

Vượt lên số phận đẩy lùi gian nan.

Tặng con một tấm lòng vàng,

Gia đình hạnh phúc, an khang suốt đời...

(Mừng sinh nhật con Trần Vũ Hoàng)

Và cả với con rể, Chị cũng không quên nhắc nhủ:

...Đêm dài tới lúc bình minh,

Ân sâu lo trả, hiển vinh đáp đền,

Giữ cho trong ấm ngoài êm,

Làm con hiếu thảo, đôi bên gia đình...

(Tặng con rể Đào Hồng Việt)

Còn với các cháu, Chị luôn trao yêu thương và đặt niềm hy vọng lớn:

...Ngựa hồng thiên lý cháu phi,

Vượt qua gian khổ không gì khó khăn.

Hanh thông, học giỏi, ngoan chăm,

Công thành danh toại bao năm luyện rèn...

(Mừng sinh nhật cháu Trần Hoàng Minh)

Quả đây là một sự công bằng, một sự bao dung, một sự kỳ vọng của tấm lòng người mẹ hiền hoà, của người bà vô cùng nhân hậu...

Nỗi niềm tâm sự, tình thương yêu của tác giả cứ như một dòng chảy, ghi dấu ở hàng loạt bài mà người đọc có thể nhận ra: Hồn quê, Miếng trầu, Lệ đắng, Bài ca người lái đò, Nỗi niềm nhà giáo, Về thăm quê, Suy ngẫm, Ngôi trường nỗi nhớ,...Chỉ cần nhắc đến loạt bài ấy là đủ thấy Tiếng lòng đầy ắp yêu thương của nhà giáo Vũ Thị Kim Quy thật đa diện, đa dạng biết nhường nào! Đó cũng là điều để có người nào khi đọc đến những trang thơ này đều có nhiều cái để suy tư, ngẫm ngợi...

2. **Một Tiếng lòng của nhân cách nhà giáo cứng cỏi, giàu nghị lực* Yêu thương là thế, nhưng Vũ Thị Kim Quy không hề yếu lòng. Chị từng viết: "Nổi chìm trong cuộc bể dâu/ Vui buồn nếm trải giấu đau trong lòng" (Bâng khuâng mủa xuân); Có lúc, Chị dùng cách nói của ẩn dụ để ngầm ví với cuộc đời của mình: "Lá trầu làm khổ thân cau/ Cắt ba, bổ sáu còn đâu hỡi người" (Miếng trầu*)...Từ những trải nghiệm có đủ buồn, vui, cay, đằng, ngọt, bùi ấy, Chị đã phải gồng mình để vượt qua tất cả, làm chỗ dựa vững chắc cho chồng con và các cháu. Muốn vậy, Chị xác định phải thật tỉnh táo với đời và với nghề để đứng dậy:

Lạnh tanh hai mặt đồng tiền,

Rơi vào vòng xoáy nỗi niềm ai hay.

Đời trao hai chữ "làm thầy",

Giữ tâm cho sáng, đức dầy mãi trong.

(Bài ca người lái đò)

Chị Kim Quy đã rất thẳng thắn khi viết: "Tìm người tri kỷ mong thêm bạn/ Tránh kẻ lọc lừa chẳng kết chơi/ Tiền của coi như làn gió thoảng/ Công danh ví tựa áng mây trôi" (Khai bút đầu xuân Tân Sửu, 2021). Nghĩ suy là như vậy, để khi hành nghề thì rất mực thanh cao:

Tuy nghèo nhà giáo vẫn sang,

Cho trò kiến thức bạc vàng kém xa.

Nghĩa tình năm tháng thăng hoa,

Trò ngoan trí tuệ tài ba dâng đời...

(Làm thày)

Phải thừa nhận rằng, tác giả Vũ Thị Kim Kim Quy luôn có cách suy nghĩ và hành xử rất mạch lạc, đường hoàng, cứng cỏi của một nhà giáo tận tâm với nghề, giàu nghị lực, đức hy sinh và tinh thần lạc quan đáng trọng...

Những đức tính quý báu ấy đã giúp Chị vượt qua mọi trái ngang, đứng vững với Đời, với Nghề. Và cho đến khi rời bục giảng, chỉ ước mong một điều thật giản dị: Được sống bên người bạn đời rất mực yêu thương của mình:

Tình già đâu có đợi ai,

Cùng nhau chia sẻ sớm mai ấm lòng.

Khát khao những ước cùng mong,

Thuyền tình mát mái xuôi dòng cùng nhau...

(Tình chiều)

**3.Một Tiếng lòng mặn mà nữ tính* Đọc thơ của Nhà giáo Vũ Thị Kim Quy, người ta không mấy khó khăn để nhận ra những nét đặc trưng của Nữ tính được hiện diện qua từng trang thơ. Với tình yêu, tình bạn, Chị viết: ...Tình em dịu mát như vầng nguyệt,*

Nghĩa bạn nồng nàn tựa ánh dương.

...Hoàng hôn mơ bóng người trong mộng,

Nhuộm tím lòng ai toả ngát hương.

(Nhớ thương)

Để nói về nỗi buồn của sự cô đơn ở người phụ nữ, rồi là nỗi khắc khoải đợi chờ của người con gái khi mùa xuân đến, Chị viết:

Ra đi theo đuổi ước mong,

Xuân qua. Hè tới uốn cong đợi chờ.

Ai đem giăng dệt sợi tơ,

Để người xưa ấy ngẩn ngơ tóc thề...

(Bâng khuâng mùa xuân)

Khi đã là vợ chồng, thì giữ trọn đạo nghĩa:

Vất vả bao năm chẳng uổng công,

Làm dâu hiếu thảo, nặng tình chồng.

Dựng xây gia cảnh nên danh phận,

Giữ đạo phu thê mãi thắm nồng...

(Nghĩa vợ)

Khi làm mẹ, thì khuyên dạy các con:

Cả đời mẹ trở trăn suy nghĩ,

Nuôi dạy con có chí làm người.

Nghèo thì chẳng sợ ai cười,

Chỉ lo hư hỏng nhác lười mà thôi...

(Lòng mẹ)

Và khi đã là bà nội, bà ngoại thì vẫn ước mong:

Mong con cháu tương lai tiến bộ,

Để tuổi già sang độ nghỉ ngơi,

Bao giờ đi với Phật Trời,

Của mẹ để lại trên đời là con...

(Lời khuyên của mẹ)

Có thể kể thêm nhiều nữa về những nghĩ suy, những trăn trở, những yêu thương, những buồn vui từ những trang thơ của tác giả này. Những điều ấy đều mang đậm những nét riêng của phụ nữ, người có nhiều cơ hội được làm bạn, làm người yêu, làm vợ, làm dâu, làm mẹ, làm bà nội, bà ngoại ở nhà giáo làm thơ Vũ Thị Kim Quy. Đó chính là nét Nữ tính rất đáng được ghi nhận...

**4.Một Tiếng lòng biết trân trọng những giá trị nhân sinh** Gía trị nhân sinh được biết đến như là những phẩm chất cao quý của thiên nhiên, đất nước, con người. Những phẩm chất ấy có thể do tự nhiên mà có, do sinh ra đã có và do tự luyện rèn, tự tạo lập mà có...Có lẽ, ở người làm thơ nào, hoặc ít hoặc nhiều, cũng đều biết trân trọng những giá trị ấy. Điều này khá nổi bật ở thơ của Vũ Thị Kim Quy. Tác giả luôn biết trân trọng, gìn giữ những giá trị của cuộc sống. Chắc có lẽ vì tác giả là một nhà giáo, một phụ nữ đã tích luỹ được nhiều vốn sống; được trải nghiệm qua nhiều tình huống, nhiều ngã rẽ của cuộc đời mà mình đã nếm trải, nên Chị rất thấm thía và chắt chiu, gửi gắm vào thơ...

Cũng như bao người làm thơ khác, Vũ Thị Kim Quy rất trân trọng những giá trị cả về "vật thể" lẫn "phi vật thể" của quê hương, đất nước. Có khi là nơi mình mới đến cư trú (Đến với Long Biên), có khi là một miền quê của liền anh liền chị (Từ Sơn miền quan họ, Ngày xuân quan họ); Có khi là những danh lam thắng cảnh của đất nước (Trẩy hội Chùa Hương, Hồ Thác Bà, Cổng trời Khau Phạ, Nhớ khúc Sông Tô, Nhớ về cố đô Huế, Thiền phái Trúc Lâm, Đất nước mình, Hào khí Đông A, ...). Đặc biệt, tác giả Vũ Thị Kim Quy dành một tình yêu, một sự kính trọng đối với các danh nhân của đất nước": Với Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Chị viết:

...Bồ Tát vung gươm thời quốc biến,

Thanh bình hoá Phật giúp dân an.

Tâm ngời thắp sáng hồn non nước,

Tiên cảnh Bồng Lai lộng gió ngàn..

(Đức Phật Trần Nhân Tông)

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chị viết:

..."Trong tù không rượu, không hoa"

Tình thơ Người vẫn đậm đà yêu thương.

Bôn ba hải ngoại tha hương,

Sắt son Bác với quê hương một đời...

(Đọc "Nhật ký trong tù" nhớ Bác)

Đó là những giá trị ở phạm vi rộng lớn, còn ở phạm vi nhỏ hơn, Chị Kim Quy cũng đã trải lòng và trân trọng tất cả những giá trị của tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu, tình thầy trò, tình đồng nghiệp...Đó là những giá trị mà cô giáo Kim Quy đã dày công vun đắp, tạo nên một "Chuỗi" giá trị sống, làm cho Tiếng lòng của tác giả thật phong phú về tình cảm, đa dạng về sắc màu và những cung bậc bổng trầm cho mỗi trang thơ...

**5.Một Tiếng lòng với những nét riêng đặc sắc**

a). Về sử dụng các thể thơ

Thơ Vũ Thị Kim Quy được viết theo nhiều thể khác nhau, nhưng dấu ấn đậm hơn cả là thể Lục bát và thể Đường luật. Ở hai thể thơ này, tác giả đều để lại những đấu ấn rất đáng kể. Đây là những dòng lục bát thật mượt mà:

Áo em mớ bẩy mớ ba,

Cho anh chung bước lời ca tỏ tường.

Sông Cầu xao động bên Thương,

Tơ lòng níu vạt nắng vương nẻo về...

(Ngày xuân quan họ)

Khi diễn tả về duyên phận chẳng lành, tác giả đã dùng hình ảnh miếng trầu và phép "tiểu đối" để ký thác:

...Lá trầu làm khổ thân cau,

Cắt ba, bổ sáu còn đâu hỡi người!

Miếng trầu như bỏ bùa tôi,

Yêu thì thắm đỏ, bã rồi xác xơ.

Xin đừng căng níu dây tơ,

Cung đàn lỡ nhịp, bến bờ cách xa...

(Miếng trầu)

Ở thể Đường luật, tác giả sử dụng phép đối khá thuần thục, điểm này hầu như có được ở hầu hết các bài. Đây chỉ là một ví dụ:

...Ước muốn lên non nhìn vũ trụ,

Mong chờ vượt biển thấy trùng khơi.

Một lầm hai lỡ mang ân hận,

Chín đợi mười trông nhớ để đời...

(Mộng ước)

b). Về sử dụng màu sắc

Có nhiều màu sắc được sử dụng trong thơ Vũ Thị Kim Quy: Xanh, đỏ, hồng..., nhưng được nhắc đến nhiều và đậm nét hơn cả là màu Tím: Có lúc chỉ là màu tím đơn lẻ: "Thẫn thờ đứng giữa hoàng hôn tím chiều" (Cô đơn); Có lúc màu tím lại xuất hiện dày đặc như một cách "đặc tả" với đủ các sắc thái, như một sự tìm tòi cho biểu cảm:

Tím Huế em trao chẳng hững hờ,

Tím trong nỗi nhớ chẳng phai mờ,

Tím trong nắng sớm thơm hương gió,

Tím áng mây chiều, tím mộng mơ

Lá đổ vào thu vương sắc tím,

Tím trong trang sách tuổi thơ ngây.

Xa nhau gửi gắm tình vào Huế,

Giữ trọn niềm tin, tím đợi chờ.

(Tím Huế)

c). Về sử dụng ngôn từ

Tác giả Vũ Thị Kim Quy rất để tâm trong việc lựa chọn ngôn từ. Một vài ví dụ để thấy rằng nhiều câu chữ được tác giả sử dụng đã gây ấn tượng mạnh: "Chang chang nắng lụt trưa hè" (Nỗi đau lòng mẹ); "Ra đi theo đuổi ước mong / Xuân qua. Hè tới uốn cong đợi chờ" (Bâng khuâng mùa xuân); "Chợ đời choán ngập được thua/ Mẹ đi bán cái nắng mưa dãi dầu" (Hồn quê); "Đường đời khập khiễng thịnh suy/ Trở về cát bụi có gì khác nhau" (Nội tâm)...

Có nhiều bài tác giả lại vận dụng lối "chơi chữ": "Xuân Kỷ Hợi" (Nhất bát thủ Xuân); "Mừng xuân Canh Tý" (Bát điệp từ Xuân); Và có khi lại là "lẩy Kiều" như ở các bài: "Nỗi niềm thi sỹ", "Đoạn trường"...

Với tất cả những cách thể hiện nói trên, đều có thể khẳng định rằng: Tác giả khá "Sành" trong việc sử dụng ngôn từ, chữ nghiã và các biện pháp tu từ, để biểu đạt, chuyển tải Tiếng lòng của mình thêm sâu đậm và để lại được những dấu ấn trong lòng người đọc...

*III. Lời kết 1.Người đọc hãy thử hình dung về cặp đôi này để nhận ra những điều thật thú vị: Họ có chung một Độ tuổi, họ có chung một Khối tình, họ có chung một Gia đình, và họ có chung Những trang thơ...Nếu có ai bảo đây là một "Cặp đôi hoàn hảo" thì cũng không hề "thẹn" với danh xưng này!... Bởi vì, những cái "Chung" của họ là thật đáng nể. Này nhé: Có bài thơ mà cả hai mái đầu đã nhuốm bạc cùng chụm lại để viết chung từng chữ, từng dòng như "Tiếng lòng". Lại có bài họ chia đôi, mỗi người viết một nửa như "Ấm lại những chiều đông"* khá lý thú: Đây là Chàng viết nửa trước:

Có em sưởi ấm những chiều đông,

Để lá thu rơi khỏi chạnh lòng.

Bếp lạnh lâu nay, hồng lửa lại,

Vui cùng bạn hữu thoả chờ mong!

Và Nàng chỉnh sửa đôi chữ, rồi tiếp bước viết nửa sau:

Qua đi năm tháng không người nhớ,

Để lại đêm ngày chẳng kẻ trông.

Thổn thức mơ hoài nơi bến mộng,

Bâng khuâng thuyền đến lại sang sông!

Đúng là sự hô ứng, sự tiếp nối đã chạm đến độ tuyệt vời!...

2.Cách biểu đạt của hai tác giả được thể hiện ở nhiều thể thơ khác nhau, nhưng đọng lại nhiều hơn cả là ở các thể Lục bát và Đường luật. Đây là những dòng lục bát mượt mà, đằm thắm giàu chất thơ của Ngô Xuân Tập:

...Đôi ta như bóng với hình,

Xa nhau lòng vẫn đinh ninh đợi chờ.

Người đi theo đuổi ước mơ,

Để vầng trăng khuyết vần thơ cháy lòng...

(Thời gian)

Còn đây cũng là những dòng lục bát nhuần nhị, ấm áp tình người, tình mẹ của Vũ Thị Kim Quy:

...Lời ru từng trải phong trần,

Lời ru ấp ủ muôn phần yêu thương.

Lời ru dịu mát toả hương,

Chứa chan tình mẹ con nương cậy nhờ...

(Lời ru của mẹ)

Và ở thơ Đường luật, cả hai tác giả này đều để lại nhiều bài khá chuẩn mực theo những quy định ngặt nghèo của thể loại; một đôi bài có đủ mọi tiêu chí để có thể neo đậu được trong lòng người đọc. Đến đây, chỉ xin nhắc lại điều này: Năm 2014, khi viết lời bình cho bài "Tiếng lòng"(viết chung của hai tác giả theo thể Đường luật), tôi đã có lời chia sẻ: "Luật thi, nếu được sử dụng một cách khéo léo, uyển chuyển thì nó sẽ góp phần tích cực cho việc bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả một cách thật hữu hiệu. "Tiếng lòng" là một bài thơ hay cả về hai phương diện hình thức và nội dung. Đây cũng là điều mơ ước của những người yêu thơ và làm thơ. "Tiếng lòng" này chắc chắn sẽ có nhiều tiếng "Đồng vọng" từ những tâm hồn "Đồng điệu" để sẻ chia với những thịnh tình đáng trân trọng"...

3.Thường thì, khi đọc là có "khen" và có "chê". Khen đúng độ thì tác giả hài lòng. Khen quá độ, tức là khen những cái chưa thật đạt tới hoặc không hề có, thì tác giả thấy ái ngại. Còn chê cho đúng thì tác giả cảm thấy vui, dễ tiếp thu; mà chê không đúng hoặc quá lời, thì tác giả thấy phật lòng!...Vì vậy, người đọc phải thật khách quan, thật phân minh, không thiên vị khi giữa khi đi giữa "đôi bờ" khen - chê, để khi phát ngôn hay viết ra, thì người nghe, người đọc đều có thể chấp nhận được. Điều đó, tường là dễ, nhưng cũng không hẳn là như thế!...

Đọc Ngô Xuân Tập và Vũ Thị Kim Quy, nếu loại trừ đi một đôi chỗ có phần dễ dãi, một vài chỗ lạc vần, ép chữ...thì phải nói rằng: Thơ của họ đều đã đạt đến mức chuẩn chỉ trong việc phản ánh những góc cạnh muôn màu của cuộc sống tình cảm ở con người. Cách viết của họ dung dị, vừa có nét truyền thống, vừa có phần hiện đại, dễ đi vào lòng người và đạt được sự đồng điệu nhất định từ phía người đọc. Và đó, có thể coi là sự thành công khá mỹ mãn của "Cặp đôi hoàn hảo" này!...

Hà Nội, Một ngày đầu thu, 2025