Tuyển tập văn
HỌC GIẢ ĐÀO TRINH NHẤT
Đôi nét về Tiểu sử học giả Đào Trinh Nhất:
*Đào Trinh Nhất (1900-23.3.1951), là nhà văn, nhà báo. Là con Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, con rể nhà yêu nước Lương Văn Can, tự là Quán Chi, có nhiều bút hiệu: Tinh Vệ, Vô Nhị, Nam Chúc, Hồng Phong, Hậu Đình, Viên Nạp, Anh Đào, XYZ. Sinh ở Huế, nguyên quán xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Thuở nhỏ theo học chữ Hán, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Đến tuổi trưởng thành sinh sống và làm việc tại Sài Gòn. Khoảng 1925-1926 có sang Pháp du học, đến 1929 về Sài Gòn làm việc với tư cách ký giả, nhà văn, Hơn 30 năm cầm bút, Đào Trinh Nhất từng viết báo, làm chủ bút và cộng tác với nhiều tờ báo. Đào Trinh Nhất là người đầu tiên mở ra kỷ nguyên báo xuân trên báo Đuốc nhà Nam số Tết 1934. Kể từ đó các báo đều có số báo xuân để chào mừng năm mới và Tết nguyên đán trong truyền thống của dân tộc. Sau 1945, Đào Trinh Nhất sống
ở nội thành Sài Gòn với nghề cầm bút. Khoảng 1950 có làm việc với chính quyền Sài Gòn một thời gian ngắn. Ông mất tại Sài Gòn. Về sáng tác, Đào Trinh Nhất viết khá nhiều, phần lớn đăng liên tục trên các báo xuất bản trước năm 1954 ở Sài Gòn và Hà Nội, nhất là báo Trung Bắc chủ nhật. Khuynh hướng chủ yếu trong tác phẩm của ông là tiểu thuyết lịch sử, nhằm vun đắp cho "tòa nhà quốc học" mà các nhà văn hóa và yêu nước đã cống hiến suốt đời. Hầu hết các sách biên khảo của Đào Trinh Nhất cũng được xây dựng trên tinh thần "quốc học" đã nói. Về phương pháp, Đào Trinh Nhất có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng khiến cho khi đọc ông, dù không rõ xuất xứ ta vẫn có được một sự tin cậy...Nhìn cả hai phương diện: sáng tác và biên khảo, Đào Trinh Nhất dều có những đóng góp nhất định...Ông đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm
sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam. (Trích yếu từ Từ điển Văn học Bộ mới, do Nguyễn Q. Thắng viết, tr.382-383) Dưới đây là Lời bình của tác giả sách này về 4 cuốn sách của Đào Trinh Nhất *I.Về cuốn "Vương Dương Minh"** 1.Vương Dương Minh (1471-1528) - nhà triết học Trung Hoa, người được các nhà bác học phương Tây khi khảo về triết học Trung Quốc đã khen là một người vĩ đại nhất sau Khổng Tử. Vương Dương Minh có viễn tổ là Vương Hy Chi, đời Tấn. Cha là Vương Hoa, làm quan tới Lại bộ thượng thư. Ông là người có chí lớn, "muốn học làm bậc gì cao hơn Trạng nguyên, Tể tướng, học sao tới chỗ có ích cho muôn dân, cho nghìn đời, chứ cầu lấy
béo nhà sướng thân, hiển hách một đời có sá kể gì. Xưa nay, lắm kẻ chẳng học chữ nào cũng tới được đó". Ông từng nói : "Thi đỗ không phải là việc cao nhất đâu. Duy có việc học làm thánh hiền là hơn tất cả". Ông là người văn võ toàn tài. Nhờ có cái thiên tính ham học, ham biết cho nên chẳng những nghiền ngẫm học vấn mà ngộ đạo thánh hiền theo như sở chí, lại còn tinh thông thao lược, lập nên võ công hiển hách một thời. Nhà nho có lúc làm tướng. Lên ngựa đi đánh giặc, yên dân cứu nước xong rồi, trở về nhà ngồi nghiêm trang giảng dạy học trò...
2.Triết học của Vương Dương Minh được thể hiện ở các thuyết : Tâm học, Tri hành hợp nhất, Cách vật, Trí lương tri. Chẳng hạn, về Tâm học, vấn đề đặt ra là: Tâm là gì? Tâm ở đâu? Không phải có người nghĩ ngay đến quả tim, cái cơ thể đựng máu, nằm bên trong lồng ngực chúng ta. Nhưng tâm đây khác. Vương Dương Minh định nghĩa rõ ràng thế này: "Tâm không phải là một cục máu thịt. Phàm chỗ nào có tri giác, đấy tức là tâm. Như tai mắt biết thấy biết nghe, chân tay biết đau biết ngứa, sự biết đó là tâm vậy". Hoặc về Trí lương tri, ông đúc kết thành ba mươi chữ đáng giá ngàn vàng như sau: "Không thiện không ác là thể của tâm; có thiện có ác là động của ý: biết thiện biết ác là lương tri; làm thiện bỏ ác là cách vật" . Tất cả cái học lương tri của Dương Minh bầy tỏ và kết tinh ở ba mươi chữ ấy. Học giả có thể xem như câu kinh bài kệ, nên tụng niệm
hàng ngày để nhớ mà thực dụng và ngẫm nghĩ những chỗ lí thú, tinh vi...
Học thuyết của Vương Dương Minh, nhất là "Trí lương tri" đã đào tạo nên những nhà nho học cương nghị, thức thời, giúp vào công cuộc Minh Trị Duy Tân của Nhật Bản chóng được kết quả. Khi ở Nhật Bản đã có sự thành công thì lúc đó người Trung Quốc mới biết cái học Dương Minh là hay, nhưng thế lực Âu - Mĩ tràn lấn Trung Quốc đã quá trớn mất rồi. Việt Nam ta ở ngay cạnh Trung Quốc và từng giao thiệp với nhà Minh nhiều, nhưng thưở ấy nhà nho ta cũng không biết Vương học. Vào cuối đời Lê, trong sách "Vân đài loại ngữ", Lê Quý Đôn có ít dòng nhắc đến tên ông Vương Dương Minh, nhưng không bàn bạc gì về tư tưởng, học thuyết. Mãi đến đầu triều Tự Đức mới có ông Nguyễn Văn San, người tỉnh Bắc Ninh, bắt đầu nghiên cứu Vương học. Sau này còn có thêm các ông Phan Văn Hùm và Trần Trọng Kim cũng nghiên cứu về học thuyết của Vương Dương Minh.
3.Khảo cứu về một học giả triết học như Vương Dương Minh là một việc làm không dễ, nhưng trong một cuốn sách hơn hai trăm trang, nhà nghiên cứu Đào Trinh Nhất đã đem đến cho người đọc nước nhà vào những năm 30 của thể kỉ trước nhiều điều bổ ích và lí thú. Bổ ích từ chỗ viết về Vương Dương Minh, nhưng ông đã giúp người đọc hệ thống hóa được những thuyết "Chính danh" của Khổng Tử, "Vô danh" của Lão Tử, "Khinh danh-vụ thực" của Mặc Tử, và Lí học đời Tống...Làm được việc ấy chứng tỏ cái học của Đào Trinh Nhất đã đạt tới cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Lí thú ở cách viết tài hoa. Từ những vấn đề rất phức tạp của triết học nói chung và học thuyết của Vương Dương Minh nói riêng, ông đã tách thành những vấn đề gọn gàng, giản dị hơn dưới các tiêu đề rất hấp dẫn như các chương hồi của tiểu thuyết vậy. Đồng thời, những nội dung của
từng vấn đề lại được diễn đạt bằng thứ tiếng Việt rất nhuần nhị, hiện đại, mặc dù sách ra đã cách nay sáu bảy chục năm. Làm được điều ấy chứng tỏ người viết đã có được một nghệ thuật điêu luyện để chuyển đạt các vấn đề học thuật thâm hậu đến với độc giả. Khảo cứu một cách tường tận về học thuyết của một nhà tư tưởng, đem lại lợi ích cho người đọc như vậy, nhưng Đào Trinh Nhất vẫn rất khiêm nhường nói rằng : "Tôi tự biết sức hiểu chậm, trí nhớ kém, nên đã phải mất nhiều công phu trong việc nghiên cứu bộ sách đó. Tuy thế, cũng không dám tự tin tự phụ mình đã đi tới chỗ thấy xa hiểu suốt Vương học". Phải chăng cái Đức lớn của người làm học thuật chính là từ đây?...
**II. Về cuốn "Vương An Thạch"** Vương An Thạch (1021-1086) người ở Lâm Xuyên, tỉnh Giang Tây, sinh vào cuối đời Tống Chân Tông. Lúc còn nhỏ đã nổi tiếng tài cao học rộng, văn chương hay, đọc khắp bách gia chư tử, thông suốt cả tư tưởng Phật, Lão. Bạn cùng thời gọi là kho sách sống. Ông đỗ tiến sĩ lúc 21 tuổi (1042), văn tài làm rung động khắp nước. Ông có chí lớn, muốn đem tài học của mình phụng sự đất nước. Trong một cuộc hội ẩm với anh em họ Trình và Trường Tải, ông đã bộc lộ : "Các ông chuyên về đạo học, tôi thích làm chính trị, mỗi người một việc. Tôi ôm nặng bên lòng cái chí nguyện làm cho quốc gia phú cường mà chưa biết ngày nào mới được thực hiện. Có điều, muốn cho quốc gia phú cường, trước hết phải biến pháp...Nghĩa là sửa đổi tất cả phép tắc không còn thích hợp với thời nay!".
Chí lớn là vậy, nhưng Vương An Thạch chưa có dịp để thi thố. Gặp khi vua Tống Thần Tông lên nối nghiệp, Vương An Thạch đã được nhà vua lấy mắt xanh ưu lễ như Tề Hoàn Công với Quản Trọng và Tần Hiếu Công với Thương Ưởng ngày xưa. Thần Tông là một ông vua muốn có sự thay đổi trong việc trị quốc và bình thiên hạ, nhưng dưới bệ rồng của ông toàn là những đại thần thủ cựu, đã trải qua ba đời vua (Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông), trong khoảng 60 năm trời vẫn chưa làm được gì lớn, vẫn phải lụy các nước Liêu ở phía Bắc và Hạ ở phía Tây. Thần Tông cho rằng : "Việc trị nước hễ ai có thực tài thì dùng, không nên câu nệ ở chỗ làm quan lâu hay mau, vị thứ cao hay thấp!". Thế là, chí lớn của Vương An Thạch được sự tán đồng của nhà vua như rồng gặp mây. Mặc cho triều thần ra sức phản đối, Thần Tông vẫn cất nhắc An Thạch đang ở một chức vị thấp nhỏ đặt vào ngôi
Tể tướng! Có quyền lực trong tay, An Thạch đã thực hành "Tân pháp". Trong những Tân pháp của ông phần nhiều cũng là dựa vào ý tốt của các đời vua trước, để thi hành mới mẻ cho thích hợp với đương thời. Tân pháp của Vương An Thạch gồm những điểm căn bản là : Phép Thủy lợi; Phép Thanh miêu; Phép Quân thâu; Phép Mộ dịch; Phép Thị dịch; Phép Phương điền, Quân thuế; Phép Bảo giáp; Quân khí giám; Phép Tam xá (sửa đổi chương trình giáo dục)...Trừ những việc sửa đổi lặt vặt không kể, cả 9 phép duy tân từ kinh tế, chính trị, giáo dục, cho đến công thương, quân sự không một phương diện nào Vương An Thạch không chăm chú cải cách đến nơi. Rõ ràng, Vương An Thạch không những là một nhà đại học vấn, mà còn là một nhà đại chính trị của Trung Quốc.
Tân pháp của Vương An Thạch được Tống Thần Tông tin dùng, nhưng chỉ được 7, 8 năm thì bị quật ngã và tác giả của nó cũng bị ngã theo. Tân pháp thất bại bởi 3 nguyên nhân sau : Thứ nhất là do dân chúng không thích thay đổi. Thứ hai là do nhà nho phá đám (vì cả chính trị lẫn học thuật, Vương An Thạch bị coi là cừu địch số 1 của nhà nho đương thời). Và thứ ba là do dùng binh thất bại (đem quân đi đánh Tây Hạ hao người tốn của và xâm lấn nước Nam ta bị chặn đứng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt - tức sông Cầu, tỉnh Bắc Ninh, rồi phải kéo quân về nước). Để viết được những điều nói trên về Vương An Thạch trong một cuốn sách gồm 130 trang, ngòi bút của nhà nghiên cứu Đào Trinh Nhất đã thể hiện được những nét khá đặc sắc. 1.Nhà nghiên cứu đã cho người đọc thấy một vốn học vấn uyên thâm của
mình qua việc tìm hiểu, phân tích một cách tường tận lịch sử Trung Quốc nói chung và lịch sử 4 triều đại nhà Tống nói riêng (từ Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông đến Thần Tông). Đặc biệt, nhà nghiên cứu đã chỉ rõ tình cảnh hèn yếu của nhà Tống ở hai thế kỉ XI và XII. Trung Quốc tuy là nước có văn minh sớm nhất miền đông châu Á, nhưng từ xưa vẫn bị cái họa xóm giềng quấy nhiễu, bắt phải đề phòng, chẳng mấy lúc được yên. Đó là các nước Liêu ở Đông Bắc và Hạ ở Tây Bắc luôn luôn quấy nhiễu, uy hiếp, bắt Trung Quốc phải chiều đãi, có khi còn phải đút lót tiền bạc và xén bớt đất đai. Riêng với các nước hàng xóm phía Nam (như nước Nam ta và Miến Điện), Trung Quốc còn được dễ thở, nhiều khi có thể hống hách là khác. 2.Trên cái nền chung ấy, Đào Trinh Nhất đã phân tích một cách khách quan, khoa học những điều mới mẻ trong Tân pháp của Vương An Thạch, đồng
thời cũng phân tích và chỉ rõ những nguyên cớ thất bại của Tân pháp. Nhà nghiên cứu cũng không bỏ qua việc phân tích quan điểm của những người thủ cựu, đối kháng với Vương An Thạch. Sự thất bại của Tân pháp là do người Trung Quốc không ủng hộ là chính, nhưng có một phần nhỏ là do người nước Nam ta góp phần đánh ngã họ Vương. Đó là, có một lần duy nhất vào thế kỉ XI, triều vua Lí Nhân Tông của nước ta, hai tướng Lí Thường Kiệt và Tôn Đản đã dẫn 10 vạn quân tiền vào nội địa Trung Quốc, đánh phá Khâm Châu và Liêm Châu với lí do : "Vương An Thạch cầm quyền bấy lâu, bỏ phép tổ tiên, bầy đặt tân chính làm khổ muôn dân; nay nước ta đem quân sang chính là nghĩa cử, vâng mệnh trời đánh kẻ có tội, cứu vớt dân Tàu". Thực chất, đây là bước đi "tiên phát chế nhân" nhằm ngăn chặn quân Tống đang lăm le xâm phạm bờ cõi nước ta. Nhà nghiên cứu cũng như
mọi người dân nước Nam ta đều lấy làm tiếc vì tờ "Lộ bá" kể tội Vương An Thạch đã bị thất truyền. 3.Đào Trinh Nhất cũng để tâm khá nhiều vào việc dịch thuật các tác phẩm văn chương của Vương An Thạch. Đây là một góc nhìn về tài năng của họ Vương, nhưng cũng bộc lộ văn tài của người dịch qua những tác phẩm như :
Chu Công, Bài kí đi chơi núi Bao Thuyền, Vịnh Tây Thi,...
4. Đào Trinh Nhất có cách viết rất mạch lạc, dung dị trong trình bầy, phân tích và "chốt lại" từng vấn đề, làm cho người đọc rất dễ tiếp cận. Đôi chỗ, nhà nghiên cứu làm cho trang sách trở nên sinh động hơn bởi những cuộc đối thoại giữa vua tôi, giữa các bạn đồng liêu của Vương An Thạch. Có thể những cuộc đối thoại ấy được nhà nghiên cứu dầy công tìm kiếm từ nguồn sử liệu, làm tăng thêm sức thuyết phục cho mỗi vấn đề được trình bầy hoặc lí giải. 5. Cuốn Vương An Thạch được viết vào năm 1960, cách nay đã hơn 50 năm với mục đích giới thiệu Vương An Thạch để ta có thể học tập. Điều này cho đến nay vẫn đúng. Tân pháp của Vương An Thạch tuy không thành công, nhưng lập chí của ông thì ai cũng cho là phải, trừ những người cực đoan, bảo thủ đương thời. Và chúng ta, ai cũng có thể đồng tình với Đào Trinh
Nhất cho rằng : " Một việc làm bao giờ cũng thế, chẳng phải cứ thành tựu mĩ mãn mới gọi là hay, nếu thất bại, tự nhiên là dở. Đời từng thấy việc dở mà thiên hạ vồ vập hoan nghênh, còn việc hay thì không được mấy ai phù họa. Bởi thế, người ta xét một việc làm, không nên kể sự thành bại, chỉ cốt xem ở tinh thần, ở lập ý có phải hay không... Cố nhiên thời đại nào, kỉ cương ấy, nhưng nếu nghĩ lại dĩ vãng, không khỏi than tiếc họ Vương". **III. Về cuốn "Đông Kinh Nghĩa Thục"** Viết về "Đông Kinh Nghĩa Thục", Đào Trinh Nhất đã thể hiện rõ tài năng của một nhà văn, nhà báo "có nghề" về các phương diện chọn đối tượng để để khai thác (hoặc phỏng vấn); chọn nội dung để hỏi; chọn cách thức để hỏi và trình bầy.
1.Đối tượng Đào Trinh Nhất chọn để khai thác về Đông Kinh Nghĩa Thục không phải ai khác ngoài cụ Huấn Quyền (tức Nguyễn Quyền) - Giám đốc của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhà báo đã để công tìm đến Bến Tre, (nơi cụ Huấn Quyền bị nhà nước Bảo hộ - Thực dân Pháp đưa về an trí sau khi từ Côn Đảo trở về), trước hết vì đạo thầy trò, sau là để hỏi về những phong trào vận động duy tân của các cụ nhà nho khi xưa. Lúc ấy cụ Huấn Quyền đã 67 tuổi, nhưng thể lực vẫn mạnh mẽ, trí tuệ vẫn rất sáng suốt. Cụ Huấn biết được ý định của nhà báo - người học trò cũ, đã rất vui vẻ nói đôi câu rất giầu hình ảnh: "Được, anh cứ ở lại chơi ít bữa, tôi nói chuyện cho mà nghe. Ngày tháng chạy qua cũng hơi lâu rồi, có nhiều việc đã trốn ra ngoài trí nhớ của tôi, nhưng cứ nói chuyện từ từ rồi cũng thâu thập lại được".
Được biết thêm rằng, Cụ Huấn Quyền còn là chỗ đi lại thân thiết với cụ Đào Nguyên Phổ - thân phụ của nhà báo, người đã bàn với cụ Huấn nên lấy cái tên cho trường là "Đông Kinh Nghĩa Thục", bắt chước như cái danh hiệu "Khánh Ứng Nghĩa Thục" của Phước Trạch Dụ Cát nước Nhật hồi bắt đầu Minh Trị duy tân. Hai cụ cho rằng cái tên ấy rất đắc thể. Có thể nói, nhà báo đã chọn rất đúng đối tượng để khai thác. 2.Đào Trinh Nhất cũng chọn lựa những nội dung rất căn bản xung quanh Đông Kinh Nghĩa Thục cùng những yếu nhân của nó để làm rõ dần những điều người đọc cần biết về nhà trường này. Câu chuyện giữa nhà báo và cụ Huấn giúp người đọc hiểu rõ mục đích tôn chỉ của Đông Kinh Nghĩa Thục và lí do vì sao chỉ sau gần một năm đã bị tan vỡ. Người đọc như bị hút vào câu chuyện vì được biết đến các nhân vật như Tăng Bạt Hổ từng giả làm thầy
thuốc tới xin ở trọ nhà cụ Huấn; rồi chuyện Đề Thám bị sát hại; chuyện Lương Tú Xuân gửi cụ Huấn nuôi giùm mấy ngàn lính Tàu; và chuyện Tôn Dật Tiên,...Thì ra, nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (tức Tôn Văn) của Trung Quốc đã từng hoạt động chống nhà Mãn Thanh ở Trấn Nam Quan, giáp giới với nước ta. Cứ mỗi lần thất bại bên Trung Quốc, ông lại chạy sang nước ta để được nhà nước Bảo hộ của Pháp chăm nom che chở cho, bởi lẽ, Tôn Văn vốn là bạn của Paul Doumer và Chính phủ Đông Dương! Câu chuyện giữa nhà báo và cụ Huấn cứ tiếp nối cho đến khi cụ bị buộc phải trở ra làm Huấn đạo ở huyện Phù Ninh, để rồi bị bắt đưa về giam ở Hà Nội cùng với các anh em đồng chí khác như Võ Hoành, Lê Đại, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí,...Và cuối cùng là cuộc đối mặt với Hoàng Trọng Phu để nghe hắn phủ dụ, dọa nạt, nhưng cũng không hề lung lạc được các yếu nhân của Đông
Kinh Nghĩa Thục, và rồi chính y cũng phải tâm phục. Câu chuyện giữa nhà báo Đào Trinh Nhất với cụ Huấn Quyền đã cho người đọc hiểu tõ về sự hình thành, phát triển và bị tan vỡ của Đông Kinh Nghĩa Thục cùng nhiều chuyện khác có liên quan. Chuyện kể theo cách này thật sinh động và thật bổ ích cho những ai thích tìm hiểu lịch sử nói chung và về Đông Kinh Nghĩa Thục nói riêng 3.Về cách thức nhà báo Đào Trinh Nhất hỏi và trình bầy có thể nói là một người có kĩ xảo nghề nghiệp rất cao. Cách hỏi của nhà báo rất nhã nhặn và lịch sự. Các câu hỏi cứ như câu nọ gọi câu kia, nội dung này kéo theo nội dung khác, và cứ lần lần như vậy cho đến kết cục. Người hỏi đồng thời cũng là người dẫn chuyện có những bước chuyển rất khéo léo để hấp dẫn người đọc từ nội dung này qua nội dung khác. Người hỏi chỉ cần gia
công sắp xếp, chỉnh sửa đôi chút là đã hoàn tất cho một cuốn sách ra đời. Viết được như vậy thật đáng để làm gương cho những người muốn bước vào làng văn, làng báo...
**IV. Về cuốn "Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917** Với hơn một trăm trang sách, tác giả đã đem đến cho người đọc những hiểu biết sâu sắc và khá toàn diện về danh nhân lịch sử Lương Ngọc Quyến. Hầu như mỗi trang sách đều làm cho người đọc có thêm kiến thức về những con người và những sự việc diễn ra trong một thời kì lịch sử đầy gian nan của dân tộc...
Người đọc được biết về Lương Ngọc Quyến là người học sinh Đông du thứ nhất, một con người đầy nhiệt huyết, muốn có được những kiến thức tân tiến về cả lí thuyết và thực hành từ các nước Nhật Bản và Trung Quốc để mang về phụng sự Tổ quốc. Thật khó quên hình ảnh lãnh tụ tinh thần của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên - Lương Ngọc Quyến khi thấy không thể tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội được nữa, ông quyết định chết ở Thái Nguyên, lấy hồn tiễn đưa các chiến sĩ. Ông đã yêu cầu Đội Cấn bắn vào ngực mình. Đội Cấn bất đắc dĩ phải làm theo ý muốn ấy! Tác giả cũng ngậm ngùi, cảm phục như các chiến sĩ Quang phục quân và thốt lên : "Thật là một đời hi sinh với cách mạng; sống tận tụy, chết bi tráng!". Bên cạnh hình ảnh Lương Ngọc Quyến, tác giả còn khắc họa được những hình ảnh rất đáng nhớ khác. Đó là hình ành người mẹ của Cả Thấu, Hai Vịnh và
cô em gái, dù chỉ thoáng qua, đã tự hủy mình trước đi để các con yên tâm làm việc nước, khỏi phải lo nghĩ cửa nhà. Và đặc biệt là hình ảnh Đội Cấn, khi biết đại sự hỏng rồi, không để mang nhục nếu bị giặc bắt, ông đã quyết ý tự sát. Cùng tự vẫn bên ông là ba người lính thân tín! Những sự việc ấy, tác giả không nói nhiều, mà sự việc cứ như tự nói, để lại những nỗi tiếc nuối, cảm phục cho người đọc...
Trong cả cuốn sách, tác giả đã phối hợp một cách thật hài hòa giữa thuật, kể và tả, làm cho những nét tính cách và bản lĩnh của các nhân vật lịch sử cứ đậm nét dần, hằn sâu và lưu lại trong tâm khảm người đọc. Viết về người thật, việc thật như vậy quả là một cây bút có nghề!.. *HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ*
Đôi nét về Tiểu sử Học giả Nguyễn Hiến Lê:
*Ông sinh ngày 8-1-1912, mất ngày 22-12-1984. Là nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam, tự là Lộc Đình, quê làng Phượng Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Thành Phố Hà Nội. xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Bác ruột tham gia phong trào Duy tân ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, bị thực dân Pháp cưỡng bức lưu trú ở miền Nam. Thuở nhỏ học tại Trường Yên Phụ, Trường Bưởi, Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội. 1934, tốt nghiệp, được bổ làm việc tại các tỉnh miền tây Nam Kỳ, kể từ đó ông sống hẳn ở miền Nam. 1935 bắt đầu viết hồi ký, du ký, tiểu luận, rồi dịch sách. Làm nhân viên Sở công chính thuộc ngành thủy lợi, ông thường đi công tác các tỉnh miền Hậu Giang, nên biết nhiều về cảnh vật và con người ở các địa phương này. Từ sau Cách mạng tháng Tám, ông bỏ đời sống công chức tản cư về Đồng Tháp, Long Xuyên đi dạy học.1952 thôi dạy học
lên Sài Gòn sinh sống bằng ngòi bút. Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau. Tính đến 1975, Nguyễn Hiến Lê đã viết được đúng 100 quyển sách trên đủ các thể loại. Từ 1975 đến khi qua đời, ông còn viết được hơn hai mươi quyển khác. Những năm trước 1975 tại Sài Gòn, Nguyễn Hiến Lê là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về nhân cách cũng như tư cách học thuật. Chính quyền Sài Gòn từng tặng ông và Giản Chi (bạn ông) Giải thưởng văn chương toàn quốc kèm theo một ngân phiếu lớn, nhưng các ông đã công khai từ chối. Trên nhiều lĩnh vực, tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là một đóng góp không nhỏ vào đời sống văn hóa, học thuật của miền Nam trong nhiều thập kỷ. Từ 1980, ông về sống ở Long Xuyên và mất tại Thành phố Hồ Chi Minh.*
(Trích yếu từ Từ điển Văn học Bộ mới,
do Nguyễn Q. Thắng viết, tr.1142-1144)
Dưới đây là bài viết của tác giả sách này: