Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

MẤY CẢM NHẬN VỀ "THƠ CHƯƠNG DƯƠNG", TẬP XIII

Trích từThơ và Văn (2025)· C. Thẩm bình Văn chương· tr.204

*"THƠ CHƯƠNG DƯƠNG", Tập XIII (Nhiều tác giả, NXB Lao động, năm 2020) Lịch sử thật cũng khéo sắp đặt để chúng ta có vùng đất được mang tên một chuỗi các địa danh lẫy lừng trong một thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đó là một dải gồm những: Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Bạch Đằng Giang, Tây Kết...bên bờ con sông Hồng Hà, sát nách Thủ đô Hà Nội. Đó cũng là những cái tên mà mỗi khi nhắc đến, thì trong lòng mỗi con dân Đất Việt đều trỗi dậy niềm tự hào về những chiến công hiển hách của các thế hệ cha ông thuở trước. Và chắc hẳn, nhiều người cũng không thể nào quên và cứ như vẫn thấy văng vẳng bên tai mình những câu thơ đầy "Hào khí Đông A"* của Trần Quang Khải năm nào:

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy nghìn thu

(Phò giá về kinh, Năm 1285)

Và cũng thật "Hữu duyên", trên vùng đất được mang tên "Chương Dương Độ", có một Câu Lạc Bộ thơ cũng mang tên "Chương Dương", được khai sinh và tồn tại vững vàng với Một phần tư Thế kỉ đã qua. Một phần tư thế kỉ, quả là một bề dầy về thời gian thật đáng nể! Với khoảng thời gian ấy, Câu Lạc Bộ này đã trình làng tới 13 tập thơ. Đây có thể coi như một Tiếng Thơ góp vào nền thi ca của một dân tộc yêu thơ, với những con người "lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa" (Huy Cận), với những "Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc", và "Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn"

(Chế Lan Viên)...

**Về nội dung, ở tập thứ Mười ba này, có sự góp mặt của 20 tác giả, đó là những con người đang sinh sống ở nơi này, hoặc ở nhiều nơi khác về đây tụ hội. 20 tác giả, với hơn 150 bài thơ góp mặt: người ít nhất là 4 bài, người nhiều nhất cũng chỉ giới hạn ở mức 8 bài. Có thể nói, 20 tác giả là 20 tiếng nói, 20 giọng điệu rất riêng, rất đa màu, đa sắc, nhưng tất cả đều hướng đến một cái chung là: dùng những trang thơ của mình để biểu lộ những suy tư, những tình cảm với quê hương, đất nước và con người Việt Nam. Những thứ đó có thể ở quanh mình, có thể ở rất nhiều nơi khác, nhưng đều được gửi gắm bằng những ngôn từ có khi thật mộc mạc, giản dị; có khi thì bay bổng, cao sang, song tất cả đều trĩu nặng ân tình của mỗi người cầm bút. **Về thể loại,** các tác giả đã sử dụng hầu hết các thể thơ vốn có

trong kho tàng thơ ca của dân tộc. Các thể thơ từ 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng vả đến cả những dòng thơ tự do, thơ văn xuôi đều có mặt, để thể hiện mọi khía cạnh của đời sống vốn rất giàu chất thơ. Có những dòng thơ và rồi cả chùm thơ 5 tiếng cứ thủ thỉ như kể chuyện thật duyên dáng với các bài: Mùi hoa sữa, Về lại Hội Lim, Gọi em bằng chị, Thư nhà, Thương lắm người ơi, của Nguyễn Văn Hùng. Có những dòng thơ 7 tiếng mộc mạc, chân tình với loạt bài: Biết ơn, Sống đến mười mươi, Nghĩa tình thơ phú, Mơ về nơi ấy, Huế của ta ơi, của Nguyễn Ngọc Hoạt. Có những dòng thơ 8 tiếng trau chuốt, mượt mà của Nguyễn Ngạn Cơ trong chùm bài: Hà Nội - mùa hoa sưa, Thổn thức hè về, Lẽ nào em chủ động chia tay, Chiều sông La, Chờ mưa trên bến cũ, Vũng Tàu chiều thu, Chiều thu Đà Lạt; Của Lê Chín với các bài: *Con gái miền đất võ, Thành phố và em, Mộ Đức bình

minh, Đà Lạt của tôi. Có những dòng lục bát rất uyển chuyển, sành điệu, dí dỏm, giàu hình ảnh của Nguyễn Hữu Ninh qua các bài: Chợ quê, Hoa nắng chợ tình, Cong cong cần rượu; Của Phạm Nguyên Hùng với các bài: Đình vàng, Một ngày đẹp, Phong Châu, Tấm; Của Đoàn Văn Lũy với các bài: Mừng xã anh hùng, Quê hương, Tạ ơn, Về quê thăm em; Của Nguyễn Thị Nghiêm, với các bài: Tràm chim, Hoàng hôn trên đỉnh núi, Hoa tường vi, Gánh nắng. Rồi đến những dòng lục bát sâu nặng nghĩa tình của Phạm Quang Bái với các bài: Mẹ tôi, Mừng thọ; rất chân chất, thật thà của Nguyễn Hữu Phi với các bài: Đảo cò, Tình Già, Hành trình vua Lý rời đô, Tiếng quê, Bác Hồ ở lán Nà Nưa, Tình Thơ. Và những dòng lục bát duyên dáng, dí dỏm của Lê Thị Thái qua các bài: Là cây cầu nối, Thành phố mù sương, Xuống phố, Trở lại thời mộng mơ, Xin đừng trách.* Rồi đến những

bài lục bát nặng tình mẫu tử của Trần Thị Thanh Thủy, qua các bài: Kính mừng thọ mẹ, Trải lòng, Nói với gái yêu. Đặc biệt là các bài của Phạm Đồng Tình với chùm Tứ tuyệt: Chiều Sa Pa, Tơ tình, Anh Muốn, Họa may, Đơn phương. Sang thể thơ Đường luật, phải kể đến tác giả Trần Thân Mộc, với những bài rất thuần thục về thể thơ này, qua các bài: Vinh dự lớn, Niềm tin, Niềm vui tám bảy. Kế đến là những bài của Ánh Nguyệt tràn đầy tính lạc quan của tuổi thọ và tình đời, qua các bài: Xuân cùng thơ, Trường thọ 81a!, Chúc bạn ngày sinh. Rồi đến những bài ca ngợi, nhớ về mẹ Việt Nam anh hùng và danh nhân của Lâm Tuyền, qua các bài: Nhớ Mẹ Thứ, Nhớ Tản Đà, Phụ nữ Việt Nam. Và cũng khá đặc biệt nữa, với chùm thơ mừng các Mùa Xuân của Đặng Văn Thạch, được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm các bài: *Xuân Tân Mão - 2011, Mừng xuân Quý Tỵ -

2013, Mừng xuân Giáp Ngọ - 2014, Mùa xuân mới - 2016, Xuân Đinh Dậu - 2017, Đón xuân Mậu Tuất - 2018, Mừng xuân Kỷ Hợi - 2019, Xuân Canh Tý - 2020. Bên cạnh đó, về thể thơ này, còn phải kể đến những bài thất ngôn bát cú rất thuần thục, chắc tay của Khúc Thị Hiền với các bài: Sắc màu cao nguyên đá, Vui cùng số phận, Sông thơ; Của Tạ Thị Xuyến với các bài: Cảnh quan sơn, Thăm Tây Thiên thiền viện, Xuyên Việt, Xuân. Cuối cùng, về thể loại, phải kể đến các bài thơ Tự do, thơ Văn xuôi, giàu chất suy tưởng của Trần Tranh, với các bài: Mừng, Cải cách tuổi thơ, Giặc và vũ khí chiến tranh, Mất điện thoại, Lộc vừng, Hạn mặn, Bùn; Của Nguyên Hữu Ninh với các bài: Mẹ không thể quên, Anh sẽ đi chợ tình Khâu Vai*...

Có thể nói, sự đa dạng trong việc sử dụng các thể thơ đã cho thấy sự phong phú của tình cảm, tư tưởng và sự tinh tường của các tác giả trong việc chọn lựa hình thức thơ phù hợp để biểu lộ những tình cảm của mình một cách hữu hiệu nhất. **Về cách thức thể hiện**, Cần nói ngay rằng: trong hơn 150 bài thơ, tác giả nào cũng có nhiều tìm kiếm, sáng tạo trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, âm thanh cùng các biện pháp tu từ quen thuộc của thi ca. Có thể nêu một vài ví dụ như sau:

Gieo vần thơ trong sáng lại ngày xanh

Gom thương nhớ dệt thành nhành hoa tím

Thoáng dừng chân, thả hoa vào khoảng lặng

Cánh hoa trôi chở hi vọng riêng mình

(Thổn thức hè về, Nguyễn Ngạn Cơ)

Vốc gió trên tay cùng đón bình minh

Thấy vị mặn ướp vần thơ chan chứa

Thấy vị mặn của nụ hôn đôi lứa

Thấy men say chếnh choáng giấc mơ nồng

(Chiều thu Đà Lạt, Nguyễn Ngạn Cơ)

Cái đêm trăng sáng quê mình

Ai đem vàng tãi sân đình phơi trăng

Đao đình vút nét trăng cong

Ai đem thếp nếp vàng ròng mái duyên

(Đình vàng, Phạm Nguyên Hùng)

Rượu tiên đâu đã môi kề

Uống long lanh mắt em về mà say

Tơ lòng vướng cánh chim bay

Lâng lâng chao giữa nước mây bềnh bồng

(Một ngày đẹp, Phạm Nguyên Hùng)

Mẹ đi cong vạt nắng xuân

Chợ quê chẳng quản đường gần đường xa

Gót chân mài lõm ổ gà

Lưng địu hương núi đậm đà rặng tre

(Chợ quê, Nguyễn Hữu Ninh)

Chợ tình lỡ hẹn người ơi

Nửa đời khuyết bóng tìm người hỏi vay

Gập ghềnh đá, gập ghềnh say

Gập ghềnh mưa nắng hao gầy nhớ nhung

(Hoa nắng chợ tình, Nguyễn Hữu Ninh)

Còn có thể dẫn ra nhiều ví dụ như vậy. Cách nói này giàu sức gợi dẫn, để người đọc mặc sức liên tưởng, tưởng tượng, làm cho không gian "đồng sáng tạo" trở nên rộng mở hơn, đa chiều hơn...

Đặc biệt, cần nhắc đến một vài tác giả có nhừng dòng thơ thật dí dỏm , như đùa vui với từng con chữ, mà vẫn đậm nét tâm tình:

Hè về gánh nắng đi chơi

Gặp nhau ánh mắt nụ cười hân hoan

Bán đi một chút lo toan

Mua về hạnh phúc chứa chan ân tình

(Gánh nắng, Nguyễn Thị Nghiêm)

Và có chút "dụng công" cho mỗi dòng thơ mang cùng thanh điệu:

Chiều Sa Pa mù sương rơi

Đường lên đèo loanh quanh chơi vơi

Hotel, nhà hàng đầy nơi nơi

Khách hàng nhào trong mưa thôi rơi

Khuya ta về phòng nhanh chân thôi

Ngày mai thành đô đang chờ rồi

Mong lần sau lên Sa Pa mưa đừng rơi

(Chiều Sa Pa, Ánh Nguyệt)

Trở lên là những cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của Thơ Chương Dương, Tập 13. Tuy vậy, có đôi diều cũng cần nhắc đến, để có ai lưu tâm vẫn có thể tránh khi đặt bút trên những dòng thơ. Ấy là vẫn còn ít bài thiên về lối kể lể, và vì say sưa kể mà làm loãng ý tứ của bài thơ, rồi quên mất cả vần luật, quên mất cả thanh điệu, làm mất đi sự hài hòa của toàn bài. Song, những khiếm khuyết này, không mấy khó khăn để khắc phục, chỉ cần người cầm bút lưu tâm là làm được. **Đôi lời kết:** Thơ Chương Dương đã không ngừng phát triển, tập nọ cứ tiếp nối tập kia trình làng. Đội ngũ tác giả ngày càng đông đảo hơn, ngòi bút ngày càng tinh luyện và chắc tay hơn, phản ánh đúng đắn và đầy đủ những suy tư và tình cảm của những con người trên mảnh đất này trong thời kì có nhiều

đổi mới của Đất nước và Thế giới. Và, cho dù có nhiều đổi thay, nhưng Tình Người và Tình Thơ vẫn đơm hoa kết trái, vẫn keo sơn gắn bó như lời của một tác giả ở tập thơ này:

Tình thơ trải rộng bao la

Vượt qua biên giới, nối qua tháng ngày

Thơ như men rượu ngất ngây

Tình thơ gắn chặt, dựng xây tình người

(Tình thơ, Nguyễn Hữu Phi)

Đó là những điều đáng quý, rất đáng ghi nhận ở Tập 13 này cả về nội dung và cách thức thể hiện của Thơ Chương Dương!...

Con đường đi của Thơ Chương Dương chắc hẳn sẽ còn dài, thế hệ cứ tiếp nối thế hệ, tre cứ già và măng cứ mọc...Mong sao Thơ Chương Dương cứ ngày một sinh sôi, có thêm nhiều cây bút mới, mang được Hào Khí Đông A quyện hòa với Hào Khí Thăng Long để có thêm những thành tựu xuất sắc hơn...

Hà Nội, ngày 9 tháng 4 năm 2021