Tuyển tập văn
MỘT THOÁNG ĐỒNG VĂN
Đào Nam Sơn
Chưa thấy ở đâu nhiều đá thế Đá dưới chân, đá trước mặt, đá xa xa Đá trêu suối, suối vặn mình tránh đá Đá nhuốm màu mây, đá lợp nhà. Những dãy núi Ngu Công còn chờn chợn Cứ thành thành lũy lũy bủa vây Dưới Mã Pì Lèng, thấp hơn vài trăm thước Nho Quế trườn đi sương sớm giăng đầy. Đêm thao thức trong nhà khách huyện Lạnh đại ngàn luồn thấu thịt da Sáng mở cửa, mắt ngập tràn trái chín Cả cây hồng gày guộc son pha.
Nghiêng vách núi, nương ngô hốc đá Đất theo em vượt dốc trĩu hai vai Cờ Lũng Cú trên đỉnh non phần phật Ru gió mây, nhắc trẻ học bài. Chưa thấy ở đâu nhiều đá thế Một phương trời gan góc chọi phong ba Trong ruột đá sục sôi nghìn độ lửa Cứ lặng như không, sương trắng nhạt nhòa...
**Lời bình* Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở độ cao trung bình 1000 -- 1600m so với mực nước biển, trên diện tích 2356km^2^, trải dài qua địa bàn 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Đây là một vùng đá vôi đặc biệt của cả nước, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển của vỏ trái đất. Đồng văn có tới 80% diện lộ đá vôi, được tạo thành từ những điều kiện môi trường và giai đoạn phát triển rất khác nhau kéo dài hàng trăm triệu năm. Ngày 3 tháng 10 năm 2010, hồ sơ "Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn" đã được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên địa chất toàn câu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất toàn cầu*. Đây là địa danh duy nhất tại Việt Nam và thứ hai Đông Nam Á.
Đồng Văn còn có những nét đặc biệt khác nữa, đó là nơi có Cột cờ Lũng Cú, nơi Địa đầu của Tổ quốc chúng ta. Đây là nơi mà người dân nào của nước Việt cũng mong có một lần được đặt chân đến. Tác giả bài thơ đã có may mắn được đặt chân đến nơi này, dù chỉ là "một thoáng" mà thôi! Vậy hãy xem, trong "một thoáng" ấy, tác giả thấy được những gì ở nơi đây. Hai khổ đầu bài thơ, tác giả cho ta thấy một sự ngạc nhiên, một sự ngỡ ngàng khi được đặt chân đến một nơi như là "xứ sở của đá" vậy: "Chưa thấy ở đâu đá nhiều đến thế; Đá dưới chân, đá trước mặt, đá xa xa; Đá trêu suối, suối vặn mình tránh đá; Đá nhuốm màu mây, đá lợp nhà". Qủa thật là bát ngát đá, đá nhiều đến mức "cứ thành thành, lũy lũy bủa vây". Song, điều kì thú là ở cái không gian toàn đá là đá này, người làm thơ đã khéo đặc tả để khắc họa về cái dầy đặc đá, bát ngát đá ở nơi này: "đá
nhuốm màu mây, đá lợp nhà". Đá nhiều đến mức làm cho mây trời cũng mang sắc màu của đá, rồi mái nhà dành cho sự sống cũng được lợp bằng đá, phủ bằng đá! Và ở trong cái không gian của đá ấy, tưởng như cái gì cũng là đá, là vô hồn, khô cứng cả, thì một nét hồn nhiên, tươi tắn bật dậy: "đá trêu suối, suối vặn mình tránh đá". Thì ra, đá ở đây là "có hồn" đấy chứ! Đá biết "trêu suối" và "suối vặn mình tránh đá" là những hình ảnh đẹp được hiện lên bởi con mắt thơ. Không rõ ở cái "xứ sở của đá" này, đá vốn đã "có hồn" như thế, hay người làm thơ đã "thổi hồn" cho nó vậy?...
Rời con mắt khỏi không gian đá, người làm thơ như trở lại trái tim mình để suy tư, ngẫm ngợi về mảnh đất này trong cái đêm "thao thức ở nhà khách huyện", trong cái "lạnh đại ngàn luồn thấu thịt da". Sự "thao thức" và cái lạnh "luồn thấu thịt da" là có thật đối với lữ khách, với những người mới đến nơi này, nhưng tất cả chỉ như là thoảng qua. Điều in đậm nét ở "xứ sở của đá" này chính là sự sống mãnh liệt của cảnh vật và con người. Cái "thao thức" và "cái lạnh luồn thấu thịt da" của đêm qua dường như tan biến đi đâu hết khi nhận ra sự sống ở nơi này bừng dậy vào sớm ngày sau: "sáng mở cửa, mắt ngập tràn trái chín"; "cả cây hồng gầy guộc son pha". Cảnh vật ở "xứ sở của đá" không hề cằn khô, mà còn đẹp và giàu sức sống. Những hình ảnh "ngập tràn trái chín" và "cây hồng gầy guộc son pha" đã cho thấy rất rõ cái sức sống tiềm tàng, cái vẻ đẹp tiềm
ẩn ở nơi này dồi dào biết nhường nào...
Cảnh vật nào, con người ấy. Con người nơi này đã từng: "nghiêng vách núi, nương ngô hốc đá; đất theo em vượt dốc trĩu hai vai". Bằng hai dòng thơ này, tác giả như đã vẽ được hình ảnh cần cù, nhẫn nại của những con người ở "xứ sở của đá". Con người ở nơi này đã nghĩ ra cách để tồn tại cùng với đá. Từng gùi đất nặng trĩu vai cứ được cõng lên đổ đầy các hốc đá trên từng vách núi, để rồi bên màu xanh xám của đá có màu xanh mướt của những nương ngô nuôi sống con người, từ đời này qua đời khác. Thật là kì diệu! Có lẽ chính vì vì thế mà con người ở nơi địa đầu của Tổ quốc rất kiên cường mà cũng thật ung dung. Hình ảnh "cờ Lũng Cú trên đỉnh non phần phật; gió ru mây, nhắc trẻ học bài" đủ cho ta thấy cái hiện thực và cái bay bổng của hồn người ở "xứ sở của đá"...
Chưa hết, đây như là một khúc "thủ vĩ ngâm" về "xứ sở của đá". Nếu câu thơ ở đầu bài viết: "chưa thấy ở đâu đá nhiều đến thế" là để nói lên sự ngạc nhiên, sự ngỡ ngàng về mức độ "hoành tráng" của đá, thì ở khổ thơ cuối bài, câu thơ ấy được nhắc lại, nhưng lại là để ngợi ca "tinh thần" của đá, hay nói cách khác là để tôn vinh "linh hồn" của đá. Linh hồn của đá đã tạo nên sự vững chãi để giữ gìn đất nước ngay từ nơi địa đầu này: "một phương trời gan góc chọi phong ba; trong ruột đá sục sôi nghìn độ lửa". Gan góc là thế, sục sôi là thế, nhưng "xứ sở của đá" vẫn giữ được cái thế ung dung, điềm tĩnh, thư thái đến lạ thường: "cứ lặng như không, sương trắng nhạt nhòa...". Cái "nghìn độ lửa" trong ruột của đá sẽ chỉ bùng dậy khi thật cần thiết, còn không, nó cứ tiềm tàng, cứ ẩn giấu trong lòng của đá như một kho báu trường tồn của dân tộc...
Dù chỉ là "một thoáng" thôi, nhưng tác giả đã đem lại cho người đọc nhiều điều để suy ngẫm về Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi địa đầu phía Bắc của Tổ quốc. Cái nhìn "một thoáng" này thật đáng được trân trọng...