Tuyển tập văn
NHÂN CÁCH MỘT HỌC GIẢ
(Đôi điều tản mạn nhân đọc Hồi kí ^(2)^ Nguyễn Hiến Lê) Tôi đọc sách của Nguyễn Hiến Lê không nhiều, nhưng có cái lạ là vào một vài mốc quan trọng của cuộc đời, thì tôi lại có trong tay những cuốn sách của ông. Vào đầu những năm sáu mươi, khi tôi bước vào nghề dạy học, thì tình cờ tôi mua được cuốn Nghệ thuật nói trước công chúng ở một hiệu sách cũ bên Hồ Hoàn Kiếm. Cuốn sách cho tôi những lời khuyên bổ ích để đi vào làm một nghề giao tiếp với con người, với những học sinh ở nhiều lứa tuổi. Có những câu trong sách ấy đến bây giờ tôi vẫn nhớ: "Muốn nói hùng hồn phải có tài. Nhưng trong tài năng có tới bảy mươi nhăm phần trăm do kiên tâm, còn hai mươi nhăm phần trăm do thiên tư. Vậy muốn nói trước công chúng bạn phải: luyện đức kiên tâm; rèn đức tin; nuôi lòng nhiệt thành". Những lời khuyên đó đã theo tôi nhiều năm lên
bục giảng và cho tôi ít nhiều kết quả. Cách đây hai năm, khi ở nước ngoài, tôi phải vượt không ít khó khăn để nghiên cứu, học tập. Điều thật bất ngờ là khi tôi tưởng như phải bỏ dở công việc để về, vì nhiều khó khăn dồn dập đến, thì một người bạn mang đến cho tôi cuốn Quẳng gánh lo đi do Nguyễn Hiến Lê và P.Hiếu dịch. Trong lúc đang lo về công việc, tôi cầm cuốn sách đọc ít trang mong tìm sự khuây khỏa cho tinh thần. Đến nay, nội dung sách tôi không còn nhớ là mấy, nhưng cái tên sách thì tôi không sao quên được. Bởi vì vào thời điểm đó, bốn tiếng "Quẳng gánh lo đi" như một nguồn trợ lực, tăng thêm can đảm cho tôi, giúp tôi tìm ra phương hướng cho công việc. Thế rồi, lòng quyết tâm của tôi cùng với sự ủng hộ của bạn hữu đã giúp tôi đi tới thành công trong nghiên cứu và học tập. Về nước, tôi đọc được thêm ít
cuốn sách nữa của Nguyễn Hiến Lê như: Đại cương văn học Trung Quốc, Thầy giáo họ Khổng, Sống đẹp, Hương sắc trong vường văn, và đặc biệt gần đây là cuốn Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê (Nhà xuất bản Văn học, 1993). Đọc Hồi kí Nguyễn Hiến Lê tôi có điều kiện hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Hơn 500 trang hồi kí đã dựng lại khá đầy đủ chân dung của một con người giàu lòng yêu nước, có nhiệt tâm xây dựng nền văn hóa cho quốc gia, dân tộc, một nhân cách cứng cỏi gồm hai mặt Đức - Tài song toàn đáng trân trọng. Nguyễn Hiến Lê sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học. Mẹ ông là người ít học, nhưng lại biết tần tảo, chăm lo đến việc học cho con. Vào lúc ông mới lớn, chữ Nho đã nhường chỗ cho chữ Pháp và chữ Quốc
ngữ. Nhưng hàng năm, vào mỗi kì nghỉ hè, bà mẹ vẫn bắt ông phải về quê học chữ Nho với người bác ruột; mục đích, như bà nói là để "đọc được gia phả tổ tiên". Nguyễn Hiến Lê đã không dừng lại ở mục đích do mẹ đặt ra, ông đã tu chí, khổ luyện và tiến xa hơn nhiều lần cái mốc mà thân mẫu và các bác của ông không ngờ tới. Ông đã biết tận dụng thời gian để học thêm chữ Hán. Ông học khi rảnh rỗi, khi nằm chờ việc, khi bè bạn của ông đi "nhảy đầm"...Và chữ Hán đã trở thành một công cụ quý giá giúp ông khai thác những tinh túy của văn minh Trung Hoa để truyền lại cho mai sau trong hàng chục công trình dịch thuật và khảo cứu. Nguyễn Hiến Lê không chỉ am hiểu chữ Hán, mà còn thông thạo cả tiếng Anh, tiếng Pháp. Hai thứ tiếng này cũng giúp ông rất nhiều trong việc tìm hiểu các nền văn hóa, nghệ thuật phương Tây. Ông đặt mua ở nước
ngoài đều đặn tất cả những sách báo mà ông quan tâm. Tủ sách riêng hơn ba nghìn cuốn (mà ông vẫn cho là ít) giúp ông làm quen với các nền văn minh của nhân loại. Ông vốn học nghề công chính, nhưng văn chương đã hấp dẫn ông ngay từ thuở thiếu thời. Đến năm 42 tuổi, ông chuyển hẳn sang nghề viết văn, mở nhà xuất bản riêng và sống bằng ngòi bút của mình. Trong khoảng 30 năm chuyên tâm cầm bút, Nguyễn Hiến Lê đã cho ra mắt bạn đọc đúng 100 tên sách, cả thảy trên dưới 30.000 trang. Ngoài ra, vẫn còn 20 bản thảo nữa chưa công bố. Sách ông viết gồm đủ loại: văn học, ngôn ngữ học, triết học, sử học, gương danh nhân, giáo dục, tự luyện đức trí, cảo luận, dịch thuật, du kí...Ở loại nào, Nguyễn Hiến Lê cũng thể hiện rõ cách làm việc khoa học, nghiêm túc với sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề bàn bạc, về đối tượng nghiên cứu và cũng không thiếu tính nghệ thuât.
Nguyễn Hiến Lê viết được nhiều như vậy vì ông có một kỉ luật làm việc rất khe khắt: mỗi ngày ông phải viết cho được ít nhất là một trang, nếu không thì ông có cảm giác như ở không! Đến giờ viết là ông ngồi vào bàn; chưa có hứng cũng cứ viết rồi hứng sẽ đến. Ông viết được nhiều cũng còn nhờ có hai người bạn đời tận tụy trợ giúp. Ông không phải lo toan về những chuyện vặt trong nhà. Tâm lực của ông được dồn cả cho việc đọc và viết. Mục đích viết của ông cũng rất rõ ràng: viết để dạy cho thanh thiếu niên học làm người. Điều này không phải chỉ thể hiện ở các sách ông viết về giáo dục, mà ở tất cả các công trình dịch thuật, khảo cứu khác, ông cũng đều muốn đem đến cho thanh niên những nguồn tri thức quý báu, làm giàu cho trí tuệ lớp trẻ, để họ có đủ tiềm lực phụng sự dân tộc. Tấm lòng của
ông gửi vào từng cuốn sách là thế...
Tấm lòng của Nguyễn Hiến Lê đối với những người thân cũng thật đằm thắm, ân tình. Ông là người con rất có hiếu đối với cha mẹ. Ông nhớ suốt đời về cái bạt tai của cha, nhưng ông không oán, mà lại rất biết ơn cha. Vì ông hiểu rằng cha không ghét bỏ, mà chỉ muốn cho ông nên người. Ông rất tiếc là lúc thành đạt thì mẹ và bà ngoại đều đã khuất núi, không được chứng kiến những công trình của ông, mà trong đó có phần không nhỏ của bà và mẹ đóng góp. Cha ông mất sớm, ông thờ người bác ruột (đã từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục) như cha. Bác dạy ông chữ Hán, dạy ông làm người và cũng từng bước theo dõi, uốn nắn cho văn nghiệp của ông. Ông rất kính trọng tư cách và khâm phục tài năng của các thầy học như Giáo sư Dương Quảng Hàm, Foulon, Thẩm Quỳnh, Nguyễn Gia Tường...Ông ít con nhưng không nuông chiều, mà dạy con rất nghiêm. Ông chủ trương phải rèn
cho con tự lập từ tấm bé để vào đời mau cứng cáp. Bạn bè của ông rất nhiều, nhưng bạn tâm đắc chỉ khoảng hơn chục người. Những bạn như Đông Hồ, Hư Chu, Giản Chi...là những người hiểu ông và ông cũng hiểu họ đến chân tơ kẽ tóc trong cuộc sống và trong nghề văn. Tình của ông đối với các bạn ấy lúc nào cũng là một bát nước không vơi...
Nguyễn Hiến Lê có làm nghề dạy học ít năm, nhưng ông hiểu nghề này thật chuẩn xác. Ông viết: "Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát và soạn bài phải kĩ". Học trò của ông sau này có người làm nên đã lấy câu này của ông làm phương châm sống: "Về vật chất nên sống dưới mực trung, về tinh thần nên trên mực trung". Lời khuyên của ông thấm vào từng thế hệ học trò. Có những người không học ông, nhưng nhờ đọc sách của ông mà hiểu thêm nghĩa lí ở đời nên coi ông như thầy và thường tìm đến ông để được nghe những lời chỉ bảo. Nghề dạy học đã đem đến cho ông và người vợ thứ (có trên 35 năm dạy học) một "hạnh phúc lớn", từ xưa tới nay ít gia đình có được...
Nguyễn Hiến Lê sinh ra trên đất Bắc và lập nghiệp ở phương Nam. Những vùng đất Long Xuyên, Tân Thạnh, Sài Gòn...đã trở nên thân thuộc với ông. Song không phải vì thế mà ông không nhớ gì về đất Bắc. Trái lại, ông nhớ rất rõ về Đền Hùng, về con đê làng bên Sông Hồng, về triền núi Tản Viên, về làng Phượng Khê, về ngõ Phất Lộc - nơi ông chào đời, về trường Yên Phụ - nơi ông bắt đầu đi học...Tất cả những hiểu biết về quê hương, đất nước cùng với những kỉ niệm trải theo chiều dài của những tháng năm đã tạo nên ở Nguyễn Hiến Lê một tình yêu tha thiết đối với quốc gia, dân tộc. Tình yêu đó khiến ông gắn bó đến trọn đời với đất nước, mà có người không hiểu, cứ băn khoăn vì sao ông không ra đi, mặc dù ông có thừa điều kiện để đi!...
Cuộc đời trong sáng và sự nghiệp vẻ vang của Nguyễn Hiến Lê đã được độc giả trong và ngoài nước biết đến. Bản thân ông chỉ mong giữ được lòng quý mến của một số bạn văn và lòng tin cậy của độc giả bốn phương. Và ông đã may mắn được toại nguyện về điểm đó. Ông có một quan niệm sống khác với nhiều người. Ông viết: "Tôi không muốn lên voi xuống chó, chỉ muốn đều đều ở mực trung; tôi không muốn được thiên hạ hoan nghênh, chỉ muốn được một số bạn thân hiểu tôi". Ở một chỗ khác, ông nói thêm: "Tôi không cầu danh lợi, lúc nào cũng có dư một số tiền là đủ rồi, không cần giầu, và bao giờ cũng cho rằng cái vinh dự nhất của người cầm bút là được độc giả tin cậy, chứ không phải nhận chức này chức khác, hoặc những tờ ban khen có dấu son đỏ chót của chính quyền". Quan niệm ấy đã được thể hiện rõ trong việc làm của ông. Đã hai
lần ông từ chối "Giải thưởng văn chương" của chính quyền Sài Gòn. Nguyên tắc của ông là: không nhận một vinh dự gì do một chính quyền mà ông không trọng ban cho. Có lần ông không trả lời thư riêng của một Bộ trưởng vì ông ta không kí tên mà để viên thư kí kí thay. Ngoài ra, ông cũng sẵn sàng từ chối những cái gì mà ông cảm thấy không xứng đáng được hưởng. Người có được "cái gan từ chối" những vinh hoa như Nguyễn Hiến Lê chắc hẳn không nhiều! Nguyễn Hiến Lê quả đã "Sống đẹp" như nhan đề một cuốn sách của ông, Nhưng để "sống đẹp" như vậy dưới chính quyên Ngụy Sài Gòn chắc không hẳn đã dễ dàng. Lời giới thiệu Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê của Nhà xuất bản Văn học đã nói rất đúng về ông: "Không phải là người cách mạng, là nhà văn cách mạng, nhưng Nguyễn Hiến Lê cũng không phải là nhà văn của chế độ
cũ, mặc dù ông sống giữa lòng xã hội ấy suốt mấy chục năm. Một lần nữa, Nguyễn Hiến Lê lại ở giữa lằn ranh của nhân cách và phi nhân cách. Có người cho rằng ông đi giữa hai làn đạn. Và một lần nữa ông đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, trước sau ông vẫn giữ được nhân cách của mình". Sống 72 mùa xuân, Nguyễn Hiến Lê đã hiến cho đời hơn 100 cuốn sách. Tôi tin rằng, số sách ấy sẽ có đời sống lâu dài nhiều lần hơn so với cuộc sống về thể chất của chủ nhân chúng, hay nói cách khác, những sách ấy sẽ sống mãi cùng với tên tuổi của chủ nhân...
Gấp lại những trang hồi kí của Nguyễn Hiến Lê, tôi như thấy hiện lên trước mắt một tấm gương quý, có thể để cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên nước nhà soi chung. Tôi khâm phục một con người, một học giả, một nhân cách. Tôi thầm mong đất nước mình sẽ có nhiều người, nhất là thanh niên, noi gương ông và sống được một cuộc đời có ích như ông...
Hà Nội, Mùa hè 1993
----------------------------------- (1) Bài đã đăng trên Tiền phong chủ nhật, Số 10/1994, ngày 6/3/1994. (2) Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn học, 1993. *DẤU ẤN TỪ CÁC THẦY CÔ KHOA VĂN NGÀY ẤY*