Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN NGỮ THƠ

Trích từThơ và Văn (2025)· A. Lí luận Văn học· tr.115

Thơ được nhìn nhận một cách đa chiều, đa dạng, nên ngôn ngữ thơ, một biểu hiện rất đặc sắc của "nghệ thuật ngôn từ", cũng thật đa sắc, đa màu. Có thể đi vào tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ thơ ở nhiều góc nhìn khác nhau. Dưới đây là những nét tiêu biểu. **1.Ngôn ngữ thơ có tính tạo hình* Một trong những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ là giàu tính tạo hình, hay còn gọi là tính họa, tính hình tượng*. Có nhiều tác giả cho rằng: - "Thơ là một bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm". (Leonardo da Vinci). - Thơ là thơ nhưng đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng" (Sóng Hồng...

Thế nên, ngôn ngữ thơ có khả năng tái hiện những hiện tượng của đời sống một cách sinh động bằng những bức tranh gợi hình, gợi cảm. Ngôn ngữ có hình tượng là ngôn ngữ giàu hình ành, tạo hình, âm thanh, màu sắc; có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ vào trí tưởng tượng và cảm nhận của người đọc. Ví dụ: \+ Hình tượng thị giác: Dưới trăng quyên đã gọi hè*

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông

(Kiều)

Gió thổi rừng tre phấp phới*

(Đất nước -- Nguyễn Đình Thi)

Mặt trời bơi trên mặt hồ như một con thiên nga đỏ*

(S.Êsênhin)

Hình tượng thị giác được coi là phổ biến nhất trong thơ. \+ Hình tượng thính giác: Tiếng khoan như gió thoảng ngoài*

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

(Kiều)

Em không nghe mùa thu*

Dưới trăng mờ thổn thức

...

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

...

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

(Tiếng thu, Lưu Trọng Lư)

Đây là cái nghe rất đặc biệt: nghe mùa thu, nghe rạo rực, nghe rừng thu. Trong ba cái nghe ấy, may ra thì nhận thấy "lá thu kêu xào xạc" là có phần cụ thể, còn "nghe mùa thu", "nghe rạo rực" thì chỉ có thể là cái nghe của mơ và của thơ, là cái nghe của tâm tưởng thi sĩ và của những mảnh hồn đồng điệu với nhà thơ. Tương tự như vậy, ta cũng có thể nhận ra một "hình tượng thính giác" rất đặc sắc của một hồn thơ khác khi nghe những giọt mưa:

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi...

Rơi rơi...dìu dịu rơi rơi...

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ...

(Buồn đêm mưa, Huy Cận)

Chỉ là những giọt mưa nương theo "nước giọt mái nhà" nhưng đã gợi nên những liên tưởng, tưởng tượng cho những cảm nhận của nhà thơ... Và biết đâu, những cảm nhận ấy cũng là sự đồng cảm của không ít những mảnh hồn khác khi có những nỗi buồn trong những đêm mưa...

Đó được coi là khả năng của ngôn ngữ văn học, đặc biệt là ngôn ngữ thơ. Nó có thể tái hiện lại những hiện tượng của cuộc sống một cách cụ thể, sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi hình, gợi thanh. Hay nói cách khác, ngôn ngữ có tính hình tượngngôn ngữ rất giàu hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh... có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc, người nghe. \+ Hình ảnh được coi là đơn vị nhỏ nhất để diễn tả cảm xúc của nhà thơ. Người làm thơ thường nói bằng hình ảnh chứ ít khi phát ngôn bằng khái niệm. Thơ được cho là cùng đồng hành với một hệ thống hình ảnh luôn luôn được làm tươi mới. Tính tạo hình của ngôn ngữ thơ được thể hiện trong hàng loạt những sáng tạo về hình ảnh, mang vẻ đẹp sinh động của hiện thực khách quan, và cũng là sự sinh động của tâm hồn người nghệ

sĩ. Hình ảnh trong thơ được tạo nên bởi nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau: Ẩn dụ: . Thuyền về có nhớ bến chăng*

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

. Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm

(Xuân Diệu)

* Nhân cách hóa:

. Đàn cò áo trắng, khiêng nắng qua sông

(Xuân Diệu)

. Bác giun đào đất suốt ngày

Trưa nay chết dưới gốc cây sau nhà

Họ hàng nhà kiến kéo ra

Kiến con đi trước, kiến già theo sau...

(Trần Đăng Khoa)

* So sánh:

. Trái nhót như bóng đàn tín hiệu,

trỏ lối sang mùa hè

Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu,

thắp mùa đông ấm những đêm thâu

Trái ớt như ngọn lửa đèn dầu,

Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng

Mạch đất ta dồi dào sự sống

Nên nhành cây cũng thắp sang quê hương.

(Phạm Tiến Duật)

. Ớt chỉ thiên như đạn chĩa lên trời

Na canh gác mang từng chùm lựu đạn

Ngô nghiêng thân bắp nghếch nòng ngắm bắn

Cây ngâu tròn như một chiếc dù rơi.

(Vườn tôi...?)

Từ hàng loạt những hình ảnh kể trên, ta thấy đều rất đẹp đẽ, hài hòa, thơ mộng và mềm mại; tất nhiên, cũng không thể tránh khỏi những hình ảnh khắc khổ, gớm ghiếc khi buộc phải tiếp cận và phản ánh. Mỗi hình ảnh đều nhằm tái tạo lại hiện thực theo cảm quan của thi nhân và theo đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Ngôn ngữ thơ mang tính hình tượng cao, nó đòi hỏi phải hợp lí, phải phù hợp với những liên tưởng, tưởng tượng của con người, không khiên cưỡng, gò ép hay áp đặt. Đó chính là kết quả của năng lực quan sát tinh tế, nhạy bén đã được tôi luyện, cộng với vốn sống phong phú và khả năng sử dụng ngôn ngữ thành thục tới mức điêu luyện của người nghệ sĩ. Nhà thơ không những phải quan sát và diễn tả, mà còn phải nâng tầm sự quan sát của mình đến một mức độ tinh xảo, đậm chất mĩ. Đây được coi là

sự khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ truyện cũng như ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật khác. Hay nói cách khác, đây chính là tính ưu việt của ngôn ngữ thơ khi nó mang đậm tính tạo hình. **2. Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc* Hàm súc là sự súc tích, chứa đựng bên trong nhiều ý tứ sâu sắc. Ngôn ngữ thơ phải thật cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý ở ngoài lời, gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng. Thơ Trung đại phương Đông là mẫu mực cho tính hàm súc. Thơ hiện đại đã giải phóng cho nhà thơ khỏi sự ràng buộc quá chặt chẽ về câu chữ, niêm luật, nhưng mặt trái của nó là dễ sa vào dàn trải, thiếu chắt lọc. - Thơ dân gian Việt Nam có khi chỉ 2 câu mà bao hàm nhiều ý: \+ Gió đưa cây cải về trời*

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay.

\+ Ai đi đàng ấy xa xa

Để em ôm bóng trăng tà năm canh.

- Các nhà thơ đều rất chú ý tới tính hàm ngôn của lời thơ bằng việc sử dụng âm thanh,... hoặc nhịp điệu để phô diễn tâm trạng, cảm xúc của mình. \+ Xuân Diệu đã sử dụng nhiều thanh bằng liên tiếp rất tài tình:

Mây vần từng không, mây bay đi

(Đây mùa thu tới)

Cũng trong bài thơ này, Xuân Diệu còn sử dụng những âm thanh tượng hình rất ấn tượng:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

\+ Tố Hữu cũng rất thành công trong việc sử dụng những âm thanh giàu sức gợi tả. Chẳng hạn: Em ơi, Ba [Lan]{.underline} mùa tuyết [tan]{.underline} Đường bạch [dương sương]{.underline} [trắng nắng]{.underline} tràn.

(Em ơi...Ba Lan)

Hoặc: Lá [bàng đang]{.underline} đỏ ngọn cây Sếu [giang mang]{.underline} lạnh [đang]{.underline} bay [ngang]{.underline} trời

(Tiếng hát sang xuân)

Đọc những dòng thơ nói trên thật dễ nhận ra những thanh bằng liên tiếp, tạo nên những âm vang rộng mở, trong sáng; thêm vào đó, bên cạnh những chữ bắt buộc phải mang vần (tan & tràn), (cây & bay), lại có những tiếng cùng mang một thanh trong mỗi dòng thơ bắt vần với nhau (lan & tan), (sương & dương), (nắng & trắng); (bàng & đang), (giang & mang), (đang & ngang), đã tạo nên một sự kết nối thật chặt chẽ tất cả các tiếng trong từng dòng thơ, tăng thêm sức diễn tả đầy tươi tắn, phấn khích của mùa tuyết tan và mùa xuân đang về. Những tiếng mang vần ấy được coi là "vần không chính thức" mà nhà thơ đã rất khéo léo kiếm tìm và sử dụng. Những âm thanh giàu tính tượng hình như trên quả thực đã góp phần tạo nên tính hàm súc cho mỗi câu thơ và cũng lan tỏa cho cả bài thơ. - Đồng thời, nhịp điệu cũng làm được nhiệm vụ tương tự. Ví dụ:

\+ Nửa chừng xuân/ thoắt gãy cành thiên hương (Kiều) \+ Đoạn trường thay / lúc phân kì (Kiều) Đây là những câu Kiều có cách ngắt nhịp bất thường: nhịp lẻ 3/5; 3/3 để tạo ra một liên tưởng. Nhịp điệu như có sự gãy đổ, dập vùi ở câu bát như gợi nên hình ảnh của cây bị gãy một cách bất ngờ, phũ phàng và đau đớn. Còn nhịp như gãy đổ ở câu lục cho thấy nỗi đau đứt nối, xót xa của cảnh biệt li. Nhịp điệu trong những câu thơ Tố Hữu dưới đây cũng góp phần diễn tả những cảm xúc tương tự:

Áo chàm đưa/ buổi phân li

Cầm tay nhau/ biết nói gì/ hôm nay

(Việt Bắc)

Hay trong câu thơ Xuân Diệu:

Đã vắng người sang / những chuyến đò

Thì ở đây, vẫn là nhịp 4-3 cổ điển, nhưng tạo được khoảng im lặng giữa dòng thơ, gợi nên một bến đò vắng vẻ. - Tinh tế hơn hai lối tượng thanh và tượng hình, là lối tượng ý. \+ Ví dụ thơ Tản Đà:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi đi mãi không về cùng non

(Thề non nước)

Thì cho thấy: Khi lời thề gắn bó, nước non quấn quýt lấy nhau ở đầu câu trước; đến khi xa cách nhau biền biệt thì nước ở đầu câu, mòn mỏi trông chờ non ở mãi tận cuối câu. Đến giữa bài thơ, nước non vẫn là ngàn trùng cách trở, non vẫn kiên trinh ôm ấp lời thề ngày nào:

Non cao tuổi vẫn chưa già

Non thời nhớ nước, nước mà quên non. Cho đến tận cuối bài thơ, nước non mới tái hợp, quấn quít lấy nhau như một cặp vợ chồng nhà Sam:

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề.

\+ Hay như trong ca dao: Có người lưu ý đến nhịp vừa tượng thanh, vừa tượng ý trong câu:

Trông trời/ trông đất/ trông mây

Trông mưa/ trông gió/ trông ngày/ trông đêm

Trông cho chân cứng/ đá mềm

Trời êm biển lặng/ mới yên tấm lòng.

Hai câu trên nhịp ngắt đều đặn mà cứ như thể thấp thỏm, dồn dập tựa như những lo âu đang chất chứa trong lòng; hai câu sau nhịp dài, thanh thản và thư thái như tiếng thở phào nhẹ nhõm, trút sạch mọi nỗi ưu tư từ trong lồng ngực và trái tim của người làm nghề nông. - Có thể nói rằng: Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó được biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ. Và đây được coi là ngôn ngữ được tuyển lựa một cách đặc biệt, hay nói cách khác là ngôn ngữ mang tính "đặc tuyển". Chính sự hạn định số tiếng trong mỗi dòng thơ, bài thơ mà người làm thơ phải tìm cách tuyển lựa ngôn từ để sao cho phù hợp với ý định sáng tác của mình. Vì vậy mà Maiacốvxki gọi lao động nghệ thuật ngôn từ của nhà thơ là *"trả chữ với

giá cắt cổ*":

Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ

Như khai thác chất hiểm radium

Lấy một gam phải mất hàng bao công lực

Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ

Như vậy, tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn từ có thể biểu đạt mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tại ngôn ngoại. Đây là cách sử dụng ngôn từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu đạt cao nhất như kiểu Nguyễn Du đã "giết chết" hàng loạt nhân vật với những ngôn từ thật đích đáng: Về cái vô học của Mã Giám Sinh: "Ghế trên ngối tót sỗ sàng"; về cái tởm lợm của mụ chủ nhà chứa Tú Bà: "Nhác trông nhờn nhợt màu da..."; về cái gian manh của Sở Khanh: "Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào"; về cái tầm thường, ti tiện của Hồ Tôn Hiến: "Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình". - Do dung lượng của tác phẩm, thơ thường sử dụng từ ngữ rất "tiết kiệm". Tính hàm súc của thơ, vì thế mà còn chứa đựng các thuộc tính khác. Hàm súc cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính

truyền cảm và thể hiện cá tính của người sáng tác. Ví dụ: \+ Giả Đảo (Nhà thơ thời Trung Đường, Trung Quốc), trong bài thơ Đề Lí Ngưng u cư (Đề nhà chốn u tịch của Lí Ngưng) có bốn câu đầu như sau:

Nhàn cư thiểu lân tịnh,

Thảo kính nhập hoang viên.

Điểu túc trì biên thụ,

Tăng xao nguyệt hạ môn.

...

Dịch thơ:

Người thưa nhàn xóm nhỏ

Lối cỏ vườn cô liêu

Cây bờ ao chim đỗ

Sư gõ cửa trăng chiều.

(Bản dịch của Đào Hùng). Tương truyền, câu thứ tư: "Tăng xao nguyệt hạ môn", ban đầu Giả Đảo phân vân giữa chữ "thôi" (đẩy) và chữ "xao" (gõ). Đang cưỡi lừa ông liền bước xuống, đứng giữa đường cứ đưa tay đẩy rồi gõ, gõ rồi đẩy, giả như đang đứng trước nhà bạn vậy, mãi vẫn không biết chọn chữ nào. Khi đó, Hàn Dũ vì can vua nên bị biếm ra làm thứ sử ở Triều Châu, đang đi chơi qua đấy, thấy một nhà sư (tức Giả Đảo) đứng bên con lừa, tay lúc đưa tới đưa lui, lúc đưa qua đưa lại thì lấy làm lạ, liền bước đến gần và lên tiếng, nhà sư mới giật mình dừng lại. Hàn Dũ hỏi thì Giả Đảo thuật lại sự tình. Hàn Dũ bật cười và bàn dùng chữ "xao" là đúng hơn. Giả Đảo bằng lòng và dùng chữ "xao". Về sau, hai chữ thôi -- xao thường dùng để chỉ việc chọn chữ, chọn câu khi viết văn, làm thơ.

\+ Trong bài "Thề non nước " của Tản Đà có câu: "Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày" có từ "khô" là một từ có độ hàm súc cao, khó kiếm được từ nào có thể thay thế. Bởi "khô" không chỉ diễn tả được chiều sâu của tình cảm, mà còn gợi lên cả chiều dài cuả những tháng năm đằng đẵng đợi chờ. Nó vừa đảm bảo được tính chính xác, tính hình tượng, vừa mang tính truyền cảm sâu đậm. - Tính hàm súc cũng đòi hỏi phải có vốn sống, vốn kinh lịch của người làm thơ. Tương truyền về đời nhà Tống bên Trung Quốc (tương đương với thời nhà Lí nước ta), có đôi bạn văn chương là Vương An Thạch và Tô Đông Pha. Cả hai đều làm quan, nhưng Vương An Thạch là quan đầu triều, Tô Đông Pha chỉ là quan hàng tỉnh. Một hôm, Tô Đông Pha được bạn mời đến chơi nhà. Trong lúc chủ nhân tạm vắng một cách tế nhị, ngồi bên bàn thấy

có một bài thơ của chủ nhân trong đó có hai câu: "Minh Nguyệt sơn đầu khiếu; Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm". Tô Đông Pha cho là vô lí, vì: minh nguyệt là trăng sáng, còn khiếu là hót. Thế thì trăng sáng sao lại hót ở đầu núi được. Câu thứ hai thì: hoàng khuyển là con chó vàng sao lại có thể ngọa (nằm) ở trong tâm của bông hoa được! Nghĩ vậy lại sẵn bút mực trên bàn, Tô Đông Pha liền sửa hai chữ: khiếu thành chiếu; tâm thành âm. Nghĩa là: trăng chiếu nơi đầu núi và con chó vàng nằm dưới bóng hoa. Tô Đông Pha cho thế mới là đúng. Sau này, khi có dịp đến một vùng ở phương Bắc xa xôi, ông được nghe tiếng hót rất hay của một loài chim lạ vang vọng từ vách đá. Hỏi ra thì biết rằng: đó là tiếng hót của chim Minh Nguyệt. Rồi một lần khác, khi đến thăm một nơi trồng hoa, thấy mọi người đang bắt sâu, đó là một loài sâu lạ nằm giữa bông hoa để ăn

nhụy. Hỏi ra thì biết rằng: đó là sâu Hoàng Khuyển. Trên đường về, Tô Đông Pha chợt giật mình nhận ra kiến văn của mình còn nông cạn. Thì ra, trên thực tế có một loài chim là Minh Nguyệt và một loài sâu là Hoàng Khuyển. Ông Tô liền viết thư bầy tỏ sự cảm phục vốn tri thức quảng bác của ông Vương và thành thực xin lỗi vì đã sửa thơ của ông. - Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ đôi khi lại do sự "đồng sáng tạo" của độc giả tạo nên. Truyện kể rằng, trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận có đoạn:

...Cá nhụ, cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cá đuôi én quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở sao lùa nước Hạ Long.

Câu thứ ba trong khổ thơ được biên tập viên, người đọc đầu tiên, sửa thành: "Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe". Sửa chữ thành Cái, chữ Én thành Em, tuy có làm mất đi cái việc liệt kê, kể ra các loại cá rất phong phú của biển Hạ Long, nhưng lại làm tăng thêm được cái sinh động và rất nên thơ của những chữ "Cái đuôi em quẫy". Từ những chữ "Cá đuôi én quẫy" đến "Cái đuôi em quẫy" là một bước tiến từ "thực" lên "thơ", làm cho câu thơ trở nên sống động, đậm chất thơ và tỏa sáng cho khổ thơ mà cũng góp phần tỏa sáng cho cả bài thơ. - Tính hàm súc trong ngôn ngữ thơ còn được bộc lộ qua việc sử dụng các phương tiện nghệ thuật, các biện pháp tu từ. Có khi, chỉ trong một bài thơ mà xuất hiện cùng một lúc các biện pháp tu từ khác nhau Ví dụ:

Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề.

Với số lượng từ không nhiều, nhưng bằng các biện pháp tu từ đã thể hiện được nét tâm trạng khắc khoải, nỗi nhớ mong của người con gái. Cái dư âm của nét tâm trạng, nỗi nhớ mong ấy dường như vẫn còn vang mãi cho đến bây giờ và cả đến mai sau, không chỉ ở một người, mà có lẽ ở rất nhiều người...

**3.Ngôn ngữ thơ có tính biểu cảm* Tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ là thuộc về bản chất của thể loại. Thơ là một hình thức giao tiếp đặc biệt: Từ trái tim đến trái tim. Có nhiều hình thức biểu cảm. - Biểu cảm trực tiếp. Ví dụ: \+ Tôi yêu em đến nay chừng có thể*

Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai

Nhưng không để em bận lòng thêm nữa

Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm không hi vọng

Khi rụt rè, khi hậm hực lòng ghen

Tôi yêu em chân thành, đằm thắm

Cầu cho em được ngời tình như tôi đã yêu em.

(A.Puskin)

\+ Hôm nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm

Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em!

(Xuân Diệu)

- Biểu cảm gián tiếp. Nhà thơ dùng hình ảnh, hình tượng vẽ nên một bức tranh về đời sống để khơi gợi ở người đọc cảm xúc đồng điệu. Gợi ý, gợi cảm là bí quyết của thơ phương Đông. Ví dụ: \+ Khứ niên kim nhật thử môn trung Nhân diện đào hoa tương ánh hồng Nhân diện bất tri hà xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Năm ngoái, ngày này, ở trong cánh cửa này

Mặt người và hoa đào cùng chiếu ánh hồng cho nhau

Mặt người không biết đã đi đâu rồi

Hoa đào như xưa vẫn còn cười với gió đông).

(Thôi Hộ)

Nguyễn Du trong Hồi "Kim Trọng sau muôn dặm phù tang", trở lại vườn thúy, nhưng nhìn xem phong cảnh có phần khác xưa, đã viết:

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa

Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

(Truyện Kiều -- Câu 2745-2748)

Tất cả đã đổi thay, nhưng chỉ có một vật không đổi, đó là cây hoa đào. Nhưng hoa đào trong thơ Thôi Hộ chỉ gợi nhớ về quá khứ. Còn hoa đào trong thơ Nguyễn Du lại chính là sự hiện diện của quá khứ, của những kỉ niệm. Ai cũng khen cụ Nguyễn Du đã viết hay hơn, sâu sắc hơn khi dựa trên tứ thơ của Thôi Hộ. \+ Đình thụ bất tri nhân khứ tận Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa (Cây trước sân không biết người đi hết,

Xuân về vẫn nở hoa như mùa trước)

(Sơn phòng xuân sự - Sầm Tham)

\+ Giếng thơi, mưa ngập, nước tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều

(Nguyễn Bính)

Tính biểu cảm được coi là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn chương là sản phẩm được tạo nên bằng cảm xúc của người nghệ sĩ trước những cảnh đời, cảnh người hoặc cảnh thiên nhiên. Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ. Riêng với thơ, do đặc trưng của thể loại, là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, của trái tim, nên ngôn ngữ thơ có tác dụng gợi cảm đặc biệt. \+ Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự. Nhà thơ không dùng ngôn ngữ để miêu tả, thuyết minh, giải thích, nhắn nhủ,...mà chỉ dùng ngôn ngữ để biểu cảm. Ví dụ, Khi Quang Dũng viết:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa,

thì nhà thơ không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong một chiều sương nào đó, có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không, mà tác giả đã khơi dậy trong ta nỗi nhớ thương, mất mát, nuối tiếc, ngậm ngùi về những ngày tháng, những kỉ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời...Nhà thơ gợi cho ta một trạng thái bằng cách tái hiện những gì đã mất, đồng thời cũng phản ánh tâm trạng của chính mình. \+ Tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ thường là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện quan hệ của chủ thể với cuộc đời. Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng, cho nên sự lựa chọn từ ngữ, các biện pháp tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật. Ví dụ:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

(Nguyễn Đình Thi)

thì ở đây, mỗi dòng thơ đều mang một sức nặng của tình cảm. Tình cảm đó như là tiêu điểm để ta nhìn thấu vào tâm hồn tác giả. \+ Tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các biện pháp tu từ, mà còn biểu hiện qua nhạc điệu của thơ. Ví dụ:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng nắng tràn

(Tố Hữu)

Sự tập trung dầy đặc các nguyên âm có độ mở rộng và phụ âm mũi vang làm cho câu thơ mang đậm nhạc tính, kéo dài như âm vang của những lớp sóng biển vỗ bờ. Nhạc tính đó không đơn thuần là sự ngân nga cuả ngôn từ, mà còn là khúc nhạc được hát lên trong lòng người. **4. Ngôn ngữ thơ có tính nhạc** - Tính nhạc làm cho bài thơ trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, đồng thời làm nên tính độc đáo của ngôn ngữ thơ. Tính nhạc của ngôn ngữ thơ đã được ý thức từ xa xưa, nhưng đó là thứ nhạc khuôn mẫu trong các thể thơ đã được luật hóa. Sau này, các nhà thơ lãng mạn và đặc biệt là các nhà thơ tượng trưng đã hết sức đề cao nhạc tính. P.Verlaine cho rằng trong thơ "nhạc đi trước mọi sự". E.Poe cho rằng: "Trong sự kết hợp thơ với nhạc, trong ý nghĩa

phổ biến, người ta có thể tìm thấy phạm vi rộng rãi nhất cho sự phát triển của thơ" và "Làm thơ là sáng tạo nhịp điệu của cái đẹp". Ông đã viết bài "Những tiếng chuông" (The bells) mang những nét rất độc đáo về tính nhạc:

Vọng lại những chiếc xe trượt tuyết và những tiếng chuông

Những tiếng chuông bạc

Giai điệu của chuông báo tin một thế giới hân hoan

Những tiếng kêu leng keng không dứt trong màn đêm lạnh giá

Trong khi cả bầu trời sao chi chít lấp lánh niềm vui pha lê.

Trong thơ ca của ta, không hiếm những ví dụ về những câu thơ có nhạc tính độc đáo:

+ Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nữa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

(Nguyễn Du)

+ Đùng đùng gió đục mây vần

Một xe trong cõi hồng trần như bay.

(Nguyễn Du)

+ Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương

(Tản Đà)

\+ Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

(Xuân Diệu)

*Cần lưu ý rằng: Để làm nên tính nhạc không chỉ do vần mà còn do nhịpthanh điệu. Không hiểu rõ điều này, trong cuộc tranh luận ở Việt Bắc năm 1949, nhiều người đã phê phán một cách bất công các bài thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi. Thực ra, phải ghi nhận đây là một nỗ lực cách tân, hiện đại hóa thơ Việt Nam. - Người làm thơ thường muốn phản ánh cuộc sống thông qua những rung động của tình cảm. Thế giới tâm hồn cuả nhà thơ vừa được thể hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ, vừa bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Khác với văn xuôi (không chú ý nhiều đến các đặc tính về thanh của ngôn ngữ như: cao độ, trường độ, cường độ...), thơ lại rất quan tâm tới những đặc tính ấy, nó được tổ chức rất chặt chẽ, có sự dụng công nhất định, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra được những điều mà từ ngữ chưa thể nói

hết được. Nét đặc trưng về nhạc tính được coi là nét khu biệt của ngôn ngữ thơ với các thể loại khác. Vậy nhạc tính của ngôn ngữ thơ được thể hiện như thế nào? Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba phương diện sau: sự cân đối, sự trầm bổngsự trùng điệp. a). Sự cân đối là sự tương xứng, hài hòa giữa các dòng thơ. Sự hài hòa đó có thể là hình ảnh, là âm thanh. Ví dụ:

Mở cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét thềm ngày lệ bóng hoa tan.

(Nguyễn Trãi)

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Hay dễ nhận thấy nhất là ở các cặp câu thực và câu luận trong các bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Ví dụ:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

(Bà Huyện Thanh Quan)

Trong thơ hiện đại, yêu cầu này không thật khắt khe, nhưng các nhà thơ vẫn luôn chú ý tới những hiệu quả nghệ thuật của phép đối trong sáng tác của mình. b). Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ được thể hiện ở các hòa âm, sự thay đổi độ cao giữa các nhóm thanh điệu. Xuân Diệu đã vận dụng vần bằng vào hai dòng thơ để thể hiện cảm xúc lâng lâng, bay bổng theo tiếng đàn du dương, êm dịu:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

\+ Nhà thơ Tố Hữu đã có lần nói đến giá trị của ngữ âm của từ "xôn xao" trong câu thơ "Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa" (Mẹ Tơm), rằng: Đó đâu chỉ là âm vang của tự nhiên, mà là âm vang của tâm hồn. Cái làm nên âm vang đó chính là âm thanh, âm thanh của từ "xôn xao" đã cùng với nghĩa của nó làm nên điều kì diệu ấy. \+ Sự trầm bổng của ngôn ngữ có khi lại thể hiện ở nhịp điệu. Ví dụ:

Sen tàn/ cúc lại nở hoa,

Sầu dài/ ngày ngắn/ đông đà sang xuân

(Nguyễn Du)

Các dòng thơ ngắt theo nhịp 2/4 và 2/2/4 như nhịp chuyển vần của tháng năm bốn mùa... Nhịp thơ ở đây là nhịp của cảm xúc, cảm nhận. Như vậy, âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần chỉ là hình thức, mà là những yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm con người. c). Nhạc tính của ngôn ngữ thơ còn được thể hiện qua sự trùng điệp, được thể hiện ở cách dùng vần, điệp từ, điệp ngữ và điệp cú. Chúng có tác dụng như một phương tiện kết nối các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện cho việc ghi nhớ, vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ. Ví dụ:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.

(Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm)

Cách điệp từ, điệp ngữ ở đây vừa diễn tả được hình ảnh của một cuộc chia li, đôi bên cứ cố ngoái lại tìm nhau mà chẳng thấy nhau, rồi cứ xa dần và xa mãi giữa ngút ngát màu xanh của những ngàn dâu, vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn, thấm buồn, thật khó dứt trong lòng người về nỗi sầu li biệt giữa chinh phụ và chinh phu...

Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ. Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác, một số người có xu hướng bỏ vần để tạo cho câu thơ sự tự do hóa triệt để. Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng thơ, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ... thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa. **5. Ngôn ngữ thơ có tính đa nghĩa* Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ không chỉ do yếu tố chủ quan của người tiếp nhận theo nguyên lí: [Tác phẩm văn học = Văn bản + Người đọc]{.underline}.* Tính đa nghĩa còn do đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Quan điểm của nhà thơ càng kín đáo bao nhiêu càng có lợi cho tác phẩm bấy nhiêu.

Đặc trưng của tư tưởng nghệ thuật là toát ra từ hình tượng, tình huống, chi tiết. Chúng kích thích, khêu gợi người đọc đồng sáng tạo. Tạ Trăn (đời Minh) từng phát biểu: "Thơ có chỗ có thể giải thích, có chỗ không thể giải thích, có chỗ không cần giải thích như hoa dưới nước, trăng trong gương". Một nhà thi học đồng thời là nhà thơ Vương Sĩ Trinh cũng nói: "Thơ khó ở chỗ không giải thích được thì vô vị, giải thích được thì hết vị". Các nhà thơ nhóm Xuân Thu nhã tập quan niệm: "Thơ không phải lúc nào cũng rõ nghĩa vì nó không chủ động trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó không vụ cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín, nó giữ phần sâu sắc". Tính đa nghĩa không phải là dấu hiệu non kém về nghệ thuật, mà phải xem là đặc trưng của ngôn ngữ thơ.. Một số hiện tượng thơ đã phải tốn rất

nhiều giấy mực để tìm hiểu như: Thề non nước (Tản Đà); Tống biệt hành (Thâm Tâm); Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử). Ví dụ, khổ thơ cuối trong bài Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ, người đi thực

Mẹ thà xem như chiếc lá bay

Chị thà xem như là hạt bụi

Em thà xem như hơi rượu say.

Có nhà nghiên cứu hiểu người ra đi xem: Mẹ như chiếc lá bay, Chị như là hạt bụi, Em như hơi rượu say. Phải hiểu ngược lại mới đúng, bởi Nguyễn Bính cũng đã từng viết:

Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương

Coi như đồng kẽm ngang đường đánh rơi.

**6. Ngôn ngữ thơ có tính sáng tạo, mới lạ* Một trong những đặc điểm quan trong nhất của ngôn ngữ thơ là tính sáng tạo, tính mới lạ. Ở thời Trung đại , người làm thơ thường mô phỏng tiền nhân. Trong thơ hiện đại, tính sáng tạo, tính mới lạ được coi là một phẩm chất bắt buộc. Xuân Diệu từng tuyên ngôn: - Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết - Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen*. Trong giai đoạn 1932-1945, ngôn ngữ thơ Xuân Diệu đầy tính sáng tạo. Ví dụ:

- Trăng rất trăng là trăng của tình duyên

- Chiều góa không em lạnh lẽo sao!

- Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

- Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Từ Thơ mới trở đi, thơ Việt Nam có những kết hợp từ rất mới lạ: xuân không mùa, biển pha lê, đêm thủy tinh, lệ ngân (Xuân Diệu); hương phản trắc (Đinh Hùng); Lẵng xuân bờ rũ trái xuân sa, Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà (Nguyễn Xuân Sanh)...

**Lời kết* 1.Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quí, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật. Ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ văn học đó là: tính tạo hình, tính hàm súc, tính nhạc, tính biểu cảm, tính đa nghĩa,tính sáng tạo và mới lạ...Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau. Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng. 2. Khi làm thơ, ai cũng muốn tìm được những câu chữ thật "xuất thần" để thể hiện ý tứ mà mình trông đợi. Song, mong muốn là một đằng, nhưng đích đến thì không phải ai cũng đạt được. Thiên tài như tác giả Truyện Kiều mà cũng chỉ dám kết thúc truyện bằng câu: "Lời quê chắp nhặt dông

dài, Mua vui cũng được một vài trống canh". Đấy quả là sự khiêm tốn "đáng kinh sợ" của một bậc vĩ nhân! Song trong thiên hạ, không phải vì "sự kinh sợ" ấy để chẳng ai dám làm thơ, hay chơi trò chữ nghĩa nữa, mà lại đều coi đó là lời nhắc nhủ để cẩn trọng hơn trong việc viết lách nói chung và trong việc làm thơ nói riêng. 3. Vậy làm thế nào để có lời thơ như mong đợi? Người xưa vẫn thường nhắc đến những cái "chuẩn" của sự hay cho chữ nghĩa và cho cả một tác phẩm văn chương phải có được là: Chân, Thiện, Mĩ, hoặc Tín, Đạt, Nhã. Đó là những "chuẩn" mà người làm văn chương cần vươn tới. Có thể hiểu những "chuẩn" trên một cách chung nhất là: Chân là cái thật, cái đúng, là lẽ phải, ngược lại với cái giả dối, cái sai trái. Thiện*

là cái lành, cái tốt, đối nghịch với cái ác, cái xấu. là cái đẹp. Còn Tín là sự tin cậy; Đạt là sự thông suốt; Nhã là sự tao nhã, trái nghĩa với thô thiển, tầm thường.. Để có lời thơ như mong muốn, người làm thơ luôn phải lao động cật lực với chữ nghĩa, sao cho mỗi ý tứ được lựa chọn phải được thể hiện bằng những từ ngữ thật đúng, thật chính xác và phù hợp đặc trưng của ngôn ngữ thơ về các phương diện: tạo hình, hàm súc, biểu cảm, nhạc tính, đa nghĩasáng tạo-mới lạ. Tất nhiên, trên con đường nghiên cứu, tìm kiếm và sáng tác, mỗi người đều còn có thể tìm ra những nét mới mẻ của ngôn ngữ thơ. Và đó chính là điều kì diệu không ngừng tỏa sáng của thế giới nghệ thuật thơ.