Tuyển tập văn
TẤM LÒNG TIẾN SĨ VÕ KHẮC TRIỂN QUA NHỮNG TRANG DI CẢO
*QUA NHỮNG TRANG DI CẢO* Võ Khắc Triển là một trong 7 vị Tiến sĩ Nho học thuộc khoa thi cuối cùng của nhà nước phong kiến Việt Nam, được thực hiện vào năm 1919 (năm thứ tư, triều vua Khải Định). Trong kí ức của những người thân thích ở quê hương Quảng Bình và qua những trang viết của những người quen biết xa gần đều toát lên một tinh thần quý mến, trân trọng đối với vị Tiến sĩ học rộng, liêm khiết và giàu lòng yêu nước. Suốt cuộc đời đi học, đỗ đại khoa, ra làm quan, về nghỉ hưu (lúc 54 tuổi), rồi đi theo cách mạng làm công việc dịch thuật vào chặng cuối đời, tiến sĩ Võ Khắc Triển để lại số trang viết tuy không nhiều, nhưng từ cái "không nhiều" ấy lại bộc lộ rất rõ tấm lòng của một nhà nho "ưu thời, mẫn thế"...Di cảo của tiến sĩ Võ Khắc Triển gồm một số bài thơ và
câu đối (chữ Việt và chữ Hán), dịch thuật, hiệu đính các tài liệu cổ văn Hán, giới thiệu văn thơ...
Lần theo những trang di cảo của tiến sĩ Võ Khắc Triển, người đọc có thể nhận ra những nét khá tiêu biểu từ tấm lòng của ông. 1. Những lời "tự bạch" Trong bài thơ Cảm tác, tiến sĩ Võ Khác Triển đã nói rất rõ giai đoạn đi học và đi thi đầy gian khổ của mình: "Lận đận khoa trường: Mền tú bốn; Lao đao thi nghiệp: Cử nhân hai; Tám kì ngoài hội đành rơi bảng"...Nhưng rồi, người khổ công dùi mài đèn sách cũng được đền đáp và đem lại vinh hoa cho cả dòng họ: "Một thuở trong đình đã dính mai, Tam giáp chữ đề ân sắc tứ, Vinh quy bái tổ rạng kì bài". Đến khi tám mươi tuổi, nhìn lại cuộc đời mình. Tiến sĩ Võ Khắc Triển viết những câu thơ rất thật, ông cho rằng những gì mình làm được vẫn chưa xứng đáng với đấng nam nhi theo quan điểm của người xưa; *"Tang
bồng còn thẹn với thân trai". Ông khiêm tốn cho rằng những gì mình gặt hái được vào lúc tuổi tám mươi là rất ít ỏi và ý thức được rằng phải dành những công việc "đại sự" cho những người tài năng: "Viện Văn góp ít phần lao động, Việc thế nhường riêng bậc đại tài". Ông vui sống với một tinh thần lạc quan: "Ngày sống lưng chừng ba vạn sáu, Tuổi trời còn chán chín mười mươi" và với một niềm hi vọng: "Trông mau thống nhất già thêm mạnh, Xã hội gia đình lắm chuyện vui"* (Mừng thọ 80 tuổi, Hà Nội, 24-6-1962). Vào lúc tám mươi tuổi vẫn tinh tường để nhìn nhận việc mình, việc đời với những mong ước thiết thực như vậy đối với Tổ quốc và gia đình thì thật là đáng quý, đáng trân trọng...
2. Tình yêu đất nước
Ngay trong bài thơ Mừng thọ 80 tuổi, tiến sĩ Võ Khắc Triển đã có câu: "Trông mau thống nhất già thêm mạnh", đó là nỗi lòng của một công dân đã từ lâu trông chờ ngày thống nhất non sông. Ngày ấy như hoà quyện niềm vui chung của đất nước với niềm vui riêng của tuổi già, như được tiếp thêm sức mạnh để vui sống cùng gia đình và đất nước. Nhưng tình yêu đất nước cũng gắn liền với lòng căm thù quân giặc của tiến sĩ Võ Khắc Triển còn được thể hiện ở những bài thơ khác nữa như: "Kiên trì chính nghĩa" (1956), "Kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn" (1960)...
Có thể nói, bài "Kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn" đã thể hiện khá tập trung tấm lòng yêu nước, thương nòi và những mong mỏi ngày thống nhất đất nước của tiến sĩ Võ Khắc Triển:
Nam, Bắc và Trung vốn một nhà,
Thực dân Pháp đã xé làm ba.
Thêm thù Mỹ, Diệm chia ranh giới,
Lại nhớ Rồng Tiên gốc mẹ cha.
Thương nỗi giống nòi liền ruột thịt,
Đau vì chém giết với tù tra.
Ta mau kết nghĩa trừ lang sói,
Thống nhất dư đồ đất nước ta.
Bài thơ được viết vào năm 1960 là thời kì đất nước còn đang bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc: Miền Bắc thì xây dựng Chủ nghĩa xã hội và kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh Thống nhất đất nước; còn miền Nam phải chịu sự kìm kẹp, thống trị của chế độ nguỵ quyền do Ngô Đình Diệm đứng đầu và được Hoa Kỳ hậu thuẫn về mọi phương diện. Bài thơ thất ngôn bát cú chỉ gồm năm mươi sáu chữ mà nói được khá nhiều điều: Đó là mảnh đất liền một dải đã bị thực dân Pháp "xé làm ba" để dễ bề thống trị, rồi lại bị Mỹ - Diệm chia ranh giới thành hai miền Nam - Bắc. Những cặp đối trong bài thơ: "Thêm thù Mỹ - Diệm chia ranh giới \> \< Lại nhớ Rồng Tiên gốc mẹ cha" và "Thương nỗi giống nòi liền ruột thịt \> \< Đau vì chém giết với tù tra", đã diễn tả một cách sâu sắc lòng căm thù giặc và nỗi đau thương của tác giả, mà cũng là nỗi đau thương và căm thù của mỗi người
dân đất Việt về thảm cảnh của dân tộc! Từ nỗi đau thương và căm thù ấy, từ đáy lòng mình, tác giả cất lên lời kêu gọi: "Ta mau kết nghĩa trừ lang sói, Thống nhất dư đồ đất nước ta". Lời kêu gọi: "Kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn" như đến thẳng với hồn người, có sức thuyết phục mạnh mẽ, bởi nó giàu tình cảm, giàu nghĩa khí và giàu sức khơi gợi...
Cũng nằm trong cái nguồn mạch chung ấy, tiến sĩ Võ Khắc Triển còn có những câu đối rất súc tích nói về sức mạnh của nhân dân và quyết tâm giữ gìn đất nước:
Gì mạnh bằng nhân dân, vá trời lấp bể,
Quyết thề cùng sông núi, nợ nước thù nhà.
Nói về sức mạnh của sự đoàn kết và đất nước không thể chia cắt: Đoàn kết dựng thành đồng, công nông binh truyền thống anh hùng, dịp tốt ngàn năm có một, Căm thù nung gan sắt, Trung Nam Bắc gắn liền ruột thịt, lẽ nào ba xứ chia đôi. Nói về sự hung tàn của giặc Mỹ bị thế giới lên án và sự anh dũng của dân tộc Việt Nam qua câu đối bằng chữ Hán:
Mỹ tặc hung ngoan, thế giới đồng thanh tuyên thiết án,
Việt Nam anh dũng, quốc dân đoàn kết tráng kim thành. Dịch nghĩa:
Giặc Mỹ hung gian, thế giới đồng thanh tuyên án thép,
Việt Nam anh dũng, quốc dân đoàn kết tựa thành đồng.
Quả thật, phải có một tấm lòng yêu nước, yêu dân đã đạt tới đỉnh cao, vị Tiến sĩ mới có được những dòng thơ, những câu đối lưu lại như vậy. **3.Tình yêu con người** Yêu thương và quý trọng con người là một nét được bộc lộ khá rõ rệt trong những trang Di cảo của tiến sĩ Võ Khắc Triển. Điều này có thể nhận thấy qua mấy dòng thơ viết cho con trai trước khi sang nước bạn Lào làm nhiệm vụ quốc tế trong Đội tuyên truyền xung phong giải phóng Lào - Việt:
Mẹ già nối chỉ trong tay,
May cho con trẻ áo ngày ra đi.
Ra đi chỉ đặt từng li,
Tấm lòng sợ trẻ e khi chậm về.
(May áo tiễn con ra trận, 1945)
Bài thơ như gửi gắm cả tấm lòng của cha mẹ cho người con đã lớn, nay đã có thể bước vào đời để chung vai với mọi người gánh vác những công việc xã hội. Lời thơ giản dị, ý tứ sâu xa, tấm lòng cha mẹ như gắn vào từng đường kim mũi chỉ trên tấm áo cho con. Ở đó, có niềm tự hào về người con đã trưởng thành, nhưng cũng man mác một nỗi lo nếu con "chậm về"...
Yêu quý con người, tiến sĩ Võ Khắc Triển rất kính trọng các bậc tiền nhân. Ông có một số bài thơ viết vể Nguyễn Trãi, về Hoàng Hoa Thám...Bài nào cũng chứa đầy lòng cảm phục và kính cẩn của một người có vốn Nho học uyên thâm. Trong bài thơ chữ Hán: "Đề sau tác phẩm Ức Trai tiên sinh thi tập", có những dòng thơ đặc sắc ghi lại công lao của danh nhân Nguyễn Trãi, được dịch nghĩa như sau: Năm trăm năm lại gặp thời nổi tiếng, ông ứng với điềm nước sông lại trong,
Lập công, vẹn chí, nhưng không được hanh thông.
Gây dựng cơ đồ lớn lao nước Việt, để công oanh liệt đời sau.
Bài Bình Ngô đại cáo xứng với uy danh.
... ...
Nay chế độ dân chủ mới tìm lại sự thực lịch sử,
Để biểu dương bậc tiền liệt đã giúp đem lại cảnh thái bình.
Điều đặc biệt là ở cuối bài thơ, tiến sĩ Võ Khắc Triển có lời đề rất kính cẩn: "Kẻ hậu sinh ngưỡng mộ là Võ Khắc Triển, hiệu Thiếu Đâu, người Quảng Bình vái đề". Hoặc như ở cuối bài "Tại Thủ đô, gặp tiết trung thu, cùng mọi người về chiêm bái từ đường Ức Trai tiên sinh", tiến sĩ Võ Khắc Triển cũng có lời đề tương tự như ở cuối bài nói trên: "Kẻ tín thần là Thiếu Đâu thành thực vái lạy". Thế mới biết chữ "Lễ" của Nho học đã thấm sâu vào hồn cốt của vị Tiến sĩ đến nhường nào! Yêu thương con người, cho đến lúc cuối đời, tiến sĩ Võ Khắc Triển đã viết trên giấy hồng đào hai câu tự thuật, là di cảo và cũng là ý nguyện của vị tiến sĩ lúc sinh thời: Chỉ thứ nhất phiến bà tâm, nguyện thế thượng tình nhân thành quyến thuộc.
An đắc vạn gian quảng hạ, tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan.
Tiến sĩ Võ Khắc Triển dịch nghĩa: Tôi chỉ có một mảnh lòng nhân từ, nguyện cho người hữu tình trên thế gian đều thành quyến thuộc. Làm thế nào để được một vạn gian nhà rộng, giúp cho hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui tươi. Đây là một tấm lòng rất giàu giá trị nhân văn được xuất phát từ tư tưởng "tiên ưu, hậu lạc" của Nho giáo. Tiến sĩ Võ Khắc Triển mong ước những con người "hữu tình" trên thế gian này đều trở thành những người thân thiết và cũng mong có được "một vạn gian nhà rộng, giúp cho hàn sĩ trong thiên hạ được vui tươi". Thật là kì diệu, tư tưởng tốt đẹp này đã gặp gỡ với tư tưởng của bậc "Thánh thơ" Đỗ Phủ thời nhà Đường bên Trung Hoa khi ông viết "Bài hát gió thu tốc nhà":
Ước gì ngàn vạn gian nhà rộng,
Che khắp thế gian dân rét mừng.
Vững như núi, gió mưa chẳng chuyển.
Than ôi! Bao giờ mắt thấy ngôi nhà ấy,
Dẫu lếu tan, riêng ta chết cóng cũng cam lòng...
Chỉ với năm dòng thơ mà chất chứa hai điều thật lớn: Đỗ Phủ mơ ước có được ngàn vạn gian nhà rộng, vững chãi, gió mưa không thể suy suyển để che chở cho những kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, và bao giờ nhìn thấy ngôi nhà ấy thì riêng lều của nhà thơ tan nát, tấm thân của nhà thơ dẫu có chết vì giá rét, thì ông vẫn cam lòng! Ông muốn lo cho mọi người trước trong điều kiện bất thường của mình. Ông nghèo khổ nhưng không mong muốn mình phải được sung sướng trước mọi người, hoặc phải hơn họ; ngược lại, ông mong muốn cho mọi người được sung sướng trước ông và hơn ông. Sự gặp gỡ của những người có chung một học vấn Nho giáo thật là lí thú biết bao!...
4. Những "lời tiên tri" Các bậc túc Nho ngày trước thường cũng rất tinh thông Dịch học và thường có những "lời tiên tri" cho một con người, một gia đình, một dòng họ hoặc cho cả quốc gia, dân tộc. Trong cuộc đời của mình, tiến sĩ Võ Khắc Triển đã có những lời tiên tri khá "ứng nghiệm". Chẳng hạn như trong thời kháng chiến chống Pháp, ông đã khẳng định với dân tản cư ở Văn Xá và một số anh em dân quân tự vệ ở quê hương là: "Ta sẽ thắng Pháp". "Thắng Pháp rồi đất nước chưa yên, phải đánh thằng thứ hai, thắng được thì còn phải đánh thằng thứ ba thì đất nước mới yên". Lời tiên tri này ai cũng thấy là đúng! Vào dịp Tế Đinh Mùi, tiến sĩ Võ Khắc Triển cũng có đôi câu đối mang tính "tiên tri" như sau:
Tết Đinh Vị tới đây, quả chín muồi, ngày mai thống nhất,
Thắng Điện Biên dịp nữa, hoa xinh tươi, sân khấu liệt cường.
Vậy là, từ năm 1966, tiến sĩ Võ Khắc Triển đã tiên đoán nước ta sẽ "thắng Điện Biên dịp nữa". Điều đó tưởng như khó tin, nhưng sự thật hiển nhên về một "Điện Biên phủ trên không" trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, vào cuối tháng 12 năm 1972, ta đã đánh bại không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Lời tiên tri ấy lại cũng ứng nghiệm! Có được những lời tiên tri ấy, chắc chắn đều xuất phát từ sự uyên thâm về Nho học, Dịch học và từ lòng yêu dân, yêu nước đã đạt tới đỉnh cao ở tiến sĩ Võ Khắc Triển. Những trang di cảo của tiến sĩ Võ Khắc Triển đã đem lại cho người đọc những hiểu biết về một thời đã qua và cũng khơi dậy niềm tự hào cho mỗi chúng ta về một đất nước, một dân tộc có những con người tài ba lỗi lạc.
Họ luôn luôn là trụ cột của quốc gia và là nguồn khích lệ để các thế hệ con dân Đất Việt noi theo...
Hà Nội, tháng 10 năm 2008
Tài liệu tham khảo 1. Võ Khắc Vui, Võ Khắc Triển (1883-1996). Tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam. NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2003. 2. Những bài viết về cụ Võ Khắc Triển (Phụ lục của cuốn sách nói trên).