Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

QUÊ NHÀ THƯƠNG YÊU

Trích từThơ và Văn (2025)· C. Thẩm bình Văn chương

**Một vài nét về Làng Việt và Làng tôi* 1. Làng Việt* "Làng" là một khu định cư của một cộng đồng người, có thể có từ vài trăm đến vài ngàn người. Làng thường là ở nông thôn, với quy mô lớn hơn Xóm, nhưng nhỏ hơn Thị trấn. Thời phong kiến, làng là đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn. Làng quê truyền thống Việt Nam thường là nơi sinh sống của những người tiểu nông, có tính tự cung tự cấp. Làng có tính tự trị riêng. Tính tự trị trong văn hóa làng Việt thể hiện qua việc vận hành độc lập, tự quản lí, ít chịu sự can thiệp trực tiếp của chính quyền trung ương, giống như một "nhà nước thu nhỏ". Những điểm nói trên được thể hiện ở bộ máy hành chính tự trị (lệ làng, hương ước, kì mục, lí dịch; kinh tế tự cung tự cấp); không gian địa lí biệt lập

(lũy tre, cổng làng) và các hoạt động tín ngưỡng, văn hóa riêng biệt (thành hoàng làng). Làng mang một ý nghĩa tích cực là tạo nên nền tảng sức kháng cự chống ngoại xâm; khi triều đình có thể suy yếu thì làng vẫn là nơi che chở, thậm chí, có những thời kì tạm thời mất nước, nhưng không thể mất làng. Làng cũng giúp duy trì các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán truyền thống, tạo nên bản sắc riêng cho mỗi ngôi làng. Bên cạnh đó, những nét tiêu cực cũng thường có ở cộng đồng làng như: tạo ra tính tư hữu, ích kỉ, địa phương, cục bộ: "Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ". Đồng thời, cũng gắn liền với óc gia trưởng và tư tưởng thứ bậc rất vô lí: "Sống lâu lên lão làng". Ngày nay, làng đã có nhiều nét đổi khác. Làng không còn bó hẹp trong

"lũy tre", "mảnh vườn" hay "ao chuôm" nữa, mà tầm nhìn của làng đã vươn rộng, vươn xa trong một "thế giới phẳng", trong "cuộc sống số" và "vươn mình" ra biển lớn của dân tộc. Làng được lớn lên cùng đất nước; đất nước hội nhập với năm châu, bốn biển. Vị thế của làng, "cái chất' của làng thật sự đã khác rất nhiều so với ngày xưa...

2. Làng tôi Làng tôi cũng mang những nét chung của Làng Việt như đã nói ở trên. Tuy vậy, cũng có những nét riêng được nói đến dưới đây. Làng tôi ở ngoại thành Hà Nội, đó là Làng Ái Mộ, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội (Nay là Làng Ái Mộ, xã Phù Đổng, Thành phố Hà Nội). Từ Làng tôi vào đến Hồ Hoàn Kiếm có khoảng cách đúng mười cây số. Từ xa xưa, Làng tôi được gọi là Tiểu Lâm, tức là Rừng Nhỏ, thuộc Phủ Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh. Từ Làng tôi vào Đền thờ Lí Bát Đế (tức Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện), vừa đúng 7 cây số. Thành Hoàng của Làng tôi là Vua Lí Thái Tông, được thờ phụng ở Đình Làng. Làng đã có tới 7 đạo Sắc phong do các triều vua ban cho. Ngày xưa, Làng tôi có Đình, Chùa vào loại khá to trong vùng. Đình là nơi

thờ Thành Hoàng, trước cửa đình có một cây Quéo (còn gọi là cây Muỗm) rất to. Bên Chùa có một cây Ngọc Lan cũng được liệt vào hàng Cổ thụ. Đình và Chùa Làng tôi đều nằm bên bờ sông Thiên Đức. Thuở nhỏ, tôi và các bạn cùng lứa, thường lấy sân Đình và sân Chùa làm nơi tụ họp, vui chơi. Vào những dịp hội hè, tết nhất, thì Đình và Chùa của Làng thường rất nhộn nhịp, người người đều có trang phục đẹp, đi lại, vào ra cúng lễ. Thời kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, Làng tôi thuộc "Vùng tề" (tức là vùng do địch kiểm soát, khác với "Vùng tự do" là vùng do ta kiểm soát), cả Đình và Chùa đều bị giặc chiếm đóng. Chúng đã san phẳng tất cả lũy tre làng, phá hủy chiếc Cổng làng (được gọi là "Cổng tán, tức cổng có tán") do dân làng xây cất rất đẹp và vững chãi, đã từng ngăn chặn,

không cho các đảng cướp vào làng. Chúng dồn dân sang ở phía Tây, còn chúng ở phía Đông. Giữa dân làng và giặc được ngăn cách bằng một hàng rào kẽm gai cao tới mét rưỡi, rộng tới hơn 5 mét. Giặc kiểm soát rất gắt gao cả ngày lẫn đêm, nhưng dân làng vẫn có nhiều người thoát được ra vùng tự do để vào bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Những người ở lại thì bí mật hoạt động trong Đội du kích của xã. Có nhiều trận, du kích đã làm cho giặc thất điên bát đảo, như trận đặt mìn trên đê Xuân Dục để diệt đoàn quân đi càn của giặc; rồi là trận diệt giặc, cướp súng ngay trong phiên Chợ Vân lúc đang đông người...Trong những năm kháng chiến ấy, Làng tôi ít nhiều cũng có chút đóng góp sức người, sức của cho ngày Chiến thắng Điện Biên, có những người đã ngã xuống để có ngày toàn thắng (7-5-1954)...

Trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mĩ xâm lược, nhiều thanh niên Làng tôi đã lên đường nhập ngũ. Có nhiều người đã vào tới các mặt trận phía Nam để chiến đấu và hi sinh. Những người ở hậu phương thì vào các Đội dân quân, với tinh thần "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Có những người cũng đã ngã xuống bởi bom đạn trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mĩ...Sau ngày 30-4-1975, nhiều anh bộ đội của Làng vào Nam chiến đấu đã không trở về...

Sau hai cuộc kháng chiến chống giặc Pháp và giặc Mĩ, ngôi Làng nhỏ của tôi đã có tới hơn một chục Liệt sĩ. Việc đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã hi sinh vì Làng vì Nước ai cũng muốn làm, nhưng hiềm vì nguồn kinh phí còn eo hẹp nên chưa làm được nhiều. Tôi là người cũng được sinh trưởng ở Làng. Tôi cũng ra đi từ Làng và làm việc trong lĩnh vực Văn chương và Giáo dục; cũng từng nếm trải những gian khó của thời chống Mĩ cứu nước, nhưng so với các chiến sĩ đã ngã xuống thì vẫn chưa là gì. Tôi cứ nung nấu ý định: Phải làm một cái gì đó thật có ý nghĩa đối với Làng. Tôi có ý định dựng một Tấm bia để ghi danh các Liệt sĩ của Làng. Ý định này tôi đem trình bầy với các vị lãnh đạo của Làng và được các ông: Bùi Văn Tình (Bí thư Chi bộ), Đỗ Văn Công (Trưởng Làng) và Bùi Văn Sử (Trưởng Ban Phụ lão), đều đồng tình ủng hộ. Thế là mọi việc được xúc

tiến. Địa điểm xây Nhà bia được đặt kề bên Đình và Chùa. Tôi xin được góp một phần kinh phí cùng với dân làng để xây dựng Nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ của Làng. Tôi phụng soạn đôi câu đối gắn ở Nhà bia như sau: *NGHĨA NƯỚC MUÔN NĂM GHI SỬ SÁCH TÌNH LÀNG VẠN THUỞ KHẮC TÂM CAN* Ngày khánh thành Nhà Bia tưởng niệm các Liệt sĩ của Làng vào đúng Ngày 20 tháng 7 năm 2012, có đông đủ các vị lãnh đạo địa phương và thân nhân của các Liệt sĩ cùng dân làng tham dự. Từ ngày có Nhà bia, dân làng có nơi chung để hương khói cho các Liệt sĩ. Mỗi khi về làng, đi qua Nhà bia, tôi thấy có chút gì đó mát lòng...

Sáu năm sau, vào năm Mậu Tuất - 2018, tôi lại có dịp được bàn bạc với các vị lãnh đạo của Làng về việc Xây dựng chiếc Cổng Làng. Làng tôi, từ xa xưa vốn có hai chiếc cổng: Một cổng trước, là cổng chính, nhìn ra phía sông Thiên Đức, là hướng Tây - Bắc; một cổng sau, trông ra phía đầm lúa của Làng, theo hướng Đông - Nam, còn được gọi là Cổng đồng (cổng đi ra làm việc đồng áng). Bên cạnh cổng này có hai cây Gạo rất cao và to; có Điếm canh của Làng cũng được đặt ở đây. Sau hai cuộc chiến tranh, những nét cổ kính của Làng, gần như bị tàn phá hoàn toàn: Đình Làng chỉ còn lại phần hậu cung; Chùa chỉ còn lại năm gian nhà ngói đã xuống cấp nghiêm trọng. Việc khôi phục lại toàn bộ là không thể. Dân làng đã đóng góp để tôn tạo được phần hậu cung của Đình, để thờ cúng Thành Hoàng cùng các đạo Sắc phong. Chùa mang tên "Tiêu Dao" cũng được tôn tạo, để các cụ

bà ra lễ Phật vào các ngày Rằm và Mồng Một hàng tháng; đây cũng là nơi thu hút nhiều khách thập phương đến vãng cảnh và cầu cúng...

Tôi đã sưu tập một bộ ảnh các kiếu cổng làng ở Bắc Bộ, đưa về để các vị lãnh đạo của Làng chọn mẫu, nhưng xét thấy khó thực hiện, bởi địa thế không cho phép xây cất thật to như ngày xưa; vả lại, nếu xây theo kiểu cổ, thì có phần không phù hợp với khung cảnh của Làng hiện nay, vì có rất nhiều ngôi nhà cao tầng, mang phong cách hiện đại đã được xây cất gần nơi ấn định để xây cổng làng mới; thêm nữa là, kinh phí cũng không cho phép. Vì vậy, xây cổng làng theo kiểu hiện đại, đã được lựa chọn. Làng đã huy động kinh phí từ tất cả các gia đình. Về phần mình, tôi cũng được đóng góp một phần nhỏ cùng với dân làng và phụng soạn hai đôi câu đối gắn trên hai trụ Cổng làng. *Câu đối gắn trên trụ cổng mặt tiền (Hướng đi vào Làng) như sau: *NHÂN ÁI TRUYÊN ĐỜI CHA ÔNG GÌN GIỮ ĐỨC*

*HIẾU TRUNG KẾT NỐI CON CHÁU PHÁT HUY TÀI. Câu đối gắn trên trụ cổng mặt hậu (Hướng từ Làng đi ra) như sau: *TIỂU LÂM SÂU RỄ GỐC BỀN NGHÌN THU THẮM ÁI MỘ ĐỎ CÀNH XANH NGỌN VẠN THẾ TƯƠI.* Ngày khánh thành Cổng Làng cũng là ngày vui của toàn dân, ai cũng thấy tự hào về ngôi làng của mình. Chiếc Cổng được coi như "Thể diện" của cả Làng. Với tôi, mỗi lần về quê, đi qua Cổng Làng, tôi như cũng có niềm vui chung với cả Làng mình...

Có thể nói rằng, dường như Người Việt nào cũng có một cái "Làng" trong tâm khảm của mình. Đó là nơi mỗi người được sinh ra, lớn lên, rồi làm việc cống hiến cho làng, cho nước. Đến khi già yếu về với tổ tiên, thì nhiều người, dù đi làm ăn xa, vẫn tìm về với làng -- nơi quê cha, đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn...

Ai cũng có một tấm lòng, một tình yêu son sắt đối với làng. Tấm lòng ấy, tình yêu ấy là gốc rễ, là nguồn mạch để hòa nhập vào một tình yêu lớn hơn: Đó là tình yêu đối với non sông, đất nước. Càng yêu làng thì lại càng yêu nước. Đó là sức mạnh vô cùng lớn lao để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong suốt trường kì lịch sử của dân tộc...

Lòng yêu làng, yêu nước ấy cũng thật giống như cách nhà văn người Nga Ilya Erenbua (1891-1967) có câu nói nổi tiếng trong tùy bút "Lòng yêu nước" như sau: "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc". Câu nói nhấn mạnh rằng: Tình yêu quê hương, đất nước bắt nguồn từ những tình cảm cụ thể, gần gũi nhất đối với mỗi người như gia đình, làng xóm, quê hương...

Làng quê của tôi cũng thật xứng đáng với những hình ảnh thân thương, gần gũi, chất chứa đầy tính "ẩn dụ" ấy. Tôi luôn ước muốn: Làng của tôi cứ mỗi ngày một giàu và đẹp hơn; Cổng làng luôn rộng mở để đón những làn gió mới từ khắp bốn phương; và Dân làng ngày càng văn minh hơn, hiện đại hơn trong Kỷ nguyên Vươn mình của Dân tộc ở Thế kỷ XXI này...

************** TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đào Duy Anh, Hán - Việt Từ điển, NXB Minh Tân, 1951. 2. Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974. 3. Lê Thị Anh, Thơ mới với Thơ Đường, NXB Văn học, 2007. 4. Lại Nguyên Ân, Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội,1984. 5. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Nội, 2004. 6. Phan Kế Bính, Việt - Hán Văn - khảo, Nam Ký xuất bản,1938. 7. Huy Cận, Tuyển tập Thơ Huy Cận Tập I (1986); Tập II (1995),*

NXB Văn học, Hà Nội. 8.Phong Châu, Câu đối Việt Nam, NXB Sử học, Hà Nội, 1962. 9.Khrapchencô N.B. Sáng tạo, nghệ thuật, hiện thực và con người, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984. 10.Thiều Chửu, Hán Việt Tự điển, NXB Văn hóa Thông tin, 1999. 11. Việt Chương, Từ điển thanh ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, Quyển thượng (1995); Quyển hạ (1996), NXB Đồng Nai. 12. Nguyễn Nghĩa Dân, Đồng dao Việt Nam, NXB Văn học, 2008. 13. Xuân Diệu, Bàn về thơ, Văn nghệ, số 16, 1991. 14. Thơ Xuân Diệu, Toàn tập, NXB Văn học, 2010. 15.Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào, Từ điển Thành ngữ, Tục

ngữ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993. 16.Phan Huy Dũng, Kết cấu thơ trữ tình, (Nhìn từ góc độ loại hình), Luận án TS.Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội, 1999. 17. Trần Thanh Đạm "Thơ Mới" 1930-1945 và thơ hôm nay, Văn nghệ, số 45, tr.3.1994. 18. Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, NXB Văn hóa, 1962. 19. Thơ Đường, Tập I, II, NXB Văn hóa, Viện Văn học, 1962. 20. Hêghen, Mĩ học, Viện Văn học, 1973. 21. Gulaiép N.A. Lí luận văn học, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1982. 22. Thạch Trung Giả, Văn học phân tích toản thư, NXB Văn học, 1999. 23. Tế Hanh, Tuyển tập: Tập I, 1987; Tập II, !997. NXB Văn học.

24- Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2002. 25. Hoàng Xuân Hãn, Nghiêm Toản, Thi Văn Việt Nam, Sông Nhị, Hà Nội, 1951. 26. Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, NXB Văn học, Hà Nội, 1999. 27. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000. 28. Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên), Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Từ điển Văn học, Bộ mới, NXB Thế giới, 2004. 29. Bùi Công Hùng, Góp phấn tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983. 30. Nguyễn Thanh Hùng, Văn học Tầm nhìn Biến đổi, NXB Văn học, Hà Nội, 1996.

31. Tố Hữu, Tác phẩm và Lời bình, NXB Văn học, 2015. 32. Tố Hữu, Toàn tập Thơ Tố Hữu, NXB Văn học, Hà Nội, 2016. 33. Tố Hữu, Thơ và Đời, NXB Văn học, Hà Nội, 2017. 34. Đỗ Văn Hỷ, Trong thơ có họa, Tạp chí Văn học, số 1, 1991. 35. M. Gorki, Bàn về Văn học, Tập 1, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 1970. 36. Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể, NXB Tân Việt,1960. 37. Xâytlin, Lao động nhà văn, NXB văn học, Hà Hội, 1967. 38. Đặng Thanh Lê, Giảng văn Truyện Kiều, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998. 39. Phan Trọng Luận, Phương pháp luận giải mã văn bản văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2014.

40. Lưu Trọng Lư, Tuyển tập Lưu Trọng Lư, NXB Văn học, 2012. 41. Thế Lữ, Tuyển tập Thế Lữ, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2006. 42. Phương Lựu (Chủ biên) Trần Đình Sử...Lí luận Văn học, NXB Giáo dục, 1985. 43.Đặng Thai Mai, Giảng văn Chinh phụ ngâm, NXB Tri thức, 2018. 44. Viên Mai, Tùy Viên thi thoại, Nguyễn Đức Vân dịch, NXB Giáo dục, 1999. 45. Lạc Nam, Tìm hiểu các thể thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1993. 46. Phan Ngọc, Thơ là gì, Tạp chí Văn học số 1, 1991. 47. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, NXB Khoa học xã hội, 1971. 48. Bùi Văn Nguyên, Văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Hải

Phòng, 1998. 49. Vân Trình Bùi Văn Nguyên, Tuyển tập Thơ Vân Trình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997. 50. Vũ Nho, Bình thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015. 41. Thơ Nôm: Hồng Đức Quốc âm thi tập, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962. 52. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971. 53. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, 1992. 54. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng, 1997. 55. Ngô Văn Phú, Thơ Đường ở Việt Nam, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,

2001. 56. Vũ Quần Phương, Bình thơ, NXB Văn học, Hà Nội. 57. Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995. 58. Trần Đình Sử, Lí luận phê bình văn học, NXB Hội Nhà văn, 1996. 59. Văn Tâm, Giảng văn - Văn học Việt Nam 1930-1945, NXB Giáo dục, 1991. 60. Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học,1989. 61. Hoài Thanh, Nói chuyện Thơ kháng chiến, Ban Văn học, Vụ Văn học Nghệ thuật xuất bản, 1951. 62. Ngô Tất Tố, Thi văn bình chú, NXB Văn học - Trung tâm văn hóa Đông Tây, 2010.

63. Arixtốt, Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn học, Hà Nội, 1999. 64. Nguyễn Trãi, Thơ Quốc âm, NXB Giáo dục, 1994. 65. Bùi Quang Tuyến, Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật trong thơ Việt Nam hiện đại, Luận án TS. Ngữ văn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2001. 66. Chế Lan Viên, Toàn tập, NXB Văn học. 2002. 67. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 1998. 68. Lê Trí Viễn, Đến với thơ hay, NXB Giáo dục, 1998. 69. Lê Trí Viễn, Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Giáo dục, 1998. 70. Tri Thức Việt, Hàn Mặc Tử - Thơ và Đời, NXB Văn học, 2016. 71. Tri Thức Việt, Hồ Xuân Hương - Thơ và Đời, NXB Văn học, 2016. 72. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Từ điển giải thích Thuật ngữ Ngôn ngữ

học, NXB Giáo dục, 1996. **********