Tuyển tập văn
SUY NGHĨ VỀ ĐỌC - THẨM VÀ BÌNH
A.Đọc
Đọc tác phẩm văn chương, tác phẩm của nghệ thuật ngôn từ, là công việc thường ngày của các thày cô giáo dạy học Văn và của cả những người thưởng thức văn chương. Đọc là cốt để hiểu, để rồi suy ngẫm và liên tưởng về tác phẩm đã đọc, để rồi rút ra những điều lí thú, những bài học cho mình, cho người và cho đời...
Để đọc và hiểu một tác phẩm văn chương và chỉ ra được những ý nghiã của nó là việc làm không mấy dễ dàng. Bởi vì người viết văn, làm thơ chỉ cung cấp những sự kiện, những số phận, những hình ảnh, những âm thanh, vần điệu,...trên những trang viết của mình. Đó là ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ, được gọi là ý nghĩa tường minh (tức nghĩa hiển ngôn, nghĩa theo câu chữ). Còn ý nghiã của tác phẩm là ở đâu thì người đọc phải đi tìm, đó là nghĩa hàm ẩn, nghĩa không được nói ra trực tiếp, người đọc phải dùng đến thao tác suy ý, phải dựa vào những yếu tố ngoài ngôn ngữ mới có thể nắm bắt được. Tức là người đọc phải suy đoán, phải dựa vào ngôn cảnh, ngữ cảnh mà suy ra ý nghĩa. Đây là một hoạt động phải vận dụng khả năng liên tưởng, tưởng tượng và tư duy sáng tạo để loại trừ những cái nhiễu, không phù hợp, để chắt lọc lấy
những cái có ý nghĩa thật phù hợp với tác phẩm mình đang đọc. Như vậy, để đọc và hiểu một tác phẩm văn chương, ít nhất, người đọc phải tiến hành những bước như sau: 1). Đọc để hiểu được ngôn từ; 2). Đọc để hiểu được hình tượng như là cái biểu đạt; và 3). Đọc để hiểu được ý nghĩa như là cái được biểu đạt toát ra từ tác phẩm đó. Bước nọ tiếp nối bước kia, và bước thứ ba được coi là trọng tâm, là cái đích cần đạt tới. Đây được coi là những bước đi có tính liên hoàn không thể tách biệt hoặc bỏ qua một bước nào trong việc đọc và hiểu tác phẩm văn chương. Về mặt lí luận, trong các sách xưa bên Trung Hoa như Văn tâm điêu long (Lưu Hiệp), Tùy Viên thi thoại (Viên Mai); ở nước ta như Vân đài loại ngữ (Lê Quý Đôn) Thi văn bình chú (Ngô Tất Tố), Giảng văn Chinh phụ ngâm (Đặng Thai Mai), Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh)...đều có bàn
đến. Chẳng hạn, trong chương Văn nghệ của sách Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn có đề cập tới ba loại đọc văn: loại Sơ học, loại Trung học và loại Thượng học. Và gần đây (2014), trong cuốn Phương pháp luận giải mã văn bản văn học, Giáo sư Phan Trọng Luận đã đề cập đến việc đọc khá toàn diện. Ông viết: "Đọc là một hoạt động tinh thần cao cấp của loài người. Song đọc văn là một hoạt động thẩm mĩ đặc thù nên thuộc vào cấp độ cao hơn của hoạt động nhận thức của con người trong quá trình đồng hóa hiện thực...Đọc là một hoạt động tinh thần đánh dấu trình độ phát triển của tư duy cộng đồng. Đọc là hình thái giao tiếp cao của loài người. Đọc ở mỗi con người cũng là dấu hiệu của sự phát triển vượt bậc về tư duy, về trình độ giao tiếp...Đọc là sự đánh thức nhiều giác quan để chuyển tín hiệu ngôn ngữ vào trong bộ não con người, thông qua đó nắm
bắt được thông tin một cách gián tiếp và trừu tượng không như trong giao tiếp cụ thể hàng ngày giữa người này với người khác. Đọc văn lại càng kì diệu hơn vì đọc văn là đọc thẩm mĩ. (tr.23). Ông viết tiếp và chỉ rõ: "Cần có sự phận biệt chỗ khác nhau giữa đọc -- hiểu với đọc thẩm mĩ, giữa đọc văn bản văn chương với đọc văn bản phi nghệ thuật. Đọc - hiểu (understanding reading) khác đọc thẩm mĩ (aesthetic reading). Đọc -- hiểu một văn bản phi nghệ thuật là đọc một cách trung thành chính xác nội dung khách quan của các thông tin chứa đựng trong văn bản. Viết một văn bản khoa học về mọi lĩnh vực, người viết không được đưa ý kiến chủ quan của bản thân mà chỉ thông tin chính xác hiện thực khách quan. Người đọc khi đọc văn bản khoa học chú trọng nội dung khách quan chứ không săn tìm cái chủ quan của người viết văn bản. Còn trong sáng tác văn chương,
nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà quan trọng là biểu hiện chủ quan của bản thân khi phản ánh hiện thực đó. Cho nên đọc văn là đọc nội dung phản ánh và nội dung biểu hiện. Nhà văn qua sáng tác gửi đến bạn đọc nỗi niềm, tấc lòng, niềm xúc động của mình về cuộc đời, về con người, nói chung là một thông điệp thẩm mĩ. Đọc văn là đọc được niềm rung cảm, thông điệp thẩm mĩ của nhà văn để tự mình cùng xúc cảm, cùng rung cảm, đồng cảm. Đọc -- hiểu không nói được nội dung hoạt động đặc thù của đọc văn. Đọc thẩm mĩ là thuật ngữ thích hợp với đọc văn chương." (tr.24, Sđd)). Cũng là để đọc, người ta thường phân chia thành những cấp độ khác nhau: Cấp độ thứ nhất là đọc trên các dòng của tác phẩm, cấp độ này đòi hỏi phải hiểu được thật đúng và đủ những chữ nghĩa có trên từng dòng của
tác phẩm, tức là hiểu cho được những "nghĩa đen" mà chữ nghĩa mang lại trên từng dòng chữ ấy. Cấp độ thứ hai là đọc giữa các dòng của tác phẩm, tức là đi từ cái nền của kết quả đọc ở cấp độ thứ nhất, để suy ngẫm về những thông tin, những tín hiệu thẩm mĩ mà tác giả muốn đem lại cho người đọc, tức là đến với những "nghĩa bóng" mà chữ nghĩa, âm thanh, hình ảnh, nhịp điệu,...mang lại. Và, cấp độ thứ ba là đọc ngoài các dòng của tác phẩm, tức là ở mức độ cao nhất: cần khái quát, tổng hợp, liên tưởng, kết nối những ý tứ, những chữ nghĩa, những hình ảnh,...để chạm tới được những điều mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình. Tức cũng là đến với những ý tứ được toát lên từ "nghĩa đen" và "nghĩa bóng" của toàn bộ tác phẩm, hay nói cách khác là: đến được với "gan ruột" của tác giả đã kí thác vào tác phẩm. Muốn vậy, phải đọc cho
thật rành rọt tới từng chữ, từng câu, mà người ta thường gọi là "thục độc", tức là đọc thật kĩ càng. Nói là thế, nhưng không hẳn ai cũng cứ tuần tự đi theo từng bước từ "khởi động" đến "vượt chướng ngại vật", rồi đến "tăng tốc" và rồi "về đích" như vậy cả. Nhiều người chỉ đọc nhanh, đọc lướt mà đã có thể nắm bắt được ngay "cái thần" của tác phẩm. Ai có được năng lực ấy thật rất đáng trân trọng! Trong sách: "Văn học phân tích toàn thư", ở phần "Phát đoan từ", Học giả Thạch Trung Giả (tức Trần Văn Long), khi nói về cách đọc và tinh thần người đọc, ông đã viết: "Với thời gian, sống trên một đất nước, giữa một thế giới trải qua bao cuộc bể dâu trong khoảng nửa kiếp người,...tư tưởng tôi đã bao lần thay đổi nhưng có một điều bất di dịch,
và càng với thời gian càng thêm sâu sắc - là sự cần thiết, sự trang nghiêm của việc đọc sách, đọc sách có ý thức, có phương pháp, theo một hệ thống tinh vi và linh động. Nhà văn hào Goethe, người có tên trong mấy bộ sử, văn học, triết học, khoa học, hiện thân cho văn hóa nước Đức, vào độ bát tuần khi đầu nặng trĩu những vòng hoa, đã trả lời một người bạn trách lâu ngày không thấy mặt, là bận đọc sách, tập đọc sách, vì đọc sách khó quá, khó hơn sáng tác. "Tập đọc sách", lời nói như có vẻ khôi hài, như khiêm tốn giả nhưng thực chân thành, chân thành đến mức độ tuyệt đối. Sáng tác dễ, đọc sách khó". Thế mới hay, lại phải nói rằng: đọc sách nói chung và đọc tác phẩm văn chương nói riêng là công việc không mấy dễ dàng!...
Đọc thơ, tức cũng là đọc một "văn bản", là "đọc chữ", là đọc các "kí hiệu" mà người làm thơ đã phải dầy công chọn lựa. Vì thế, chữ trong thơ, đôi khi cũng khó tra cứu ở bất kì cuốn từ điển nào, bởi mỗi chữ đều mang một sắc thái riêng, sắc thái riêng này tạo nên độ "hàm súc", cái "ẩn ý" của thơ. Đọc thơ là cần tìm ra được độ hàm súc và cái ẩn ý thông qua kết cấu và những mối quan hệ có liên quan mật thiết với kết cấu ấy. Làm việc này là để phát hiện ra được mối quan hệ giữa những tình ý được tàng ẩn cả ở bên trong lẫn bên ngoài của một bài thơ. Và một khi đã phát hiện ra được các mối quan hệ ấy, tức là đã phát hiện ra tính hệ thống của bài thơ đó. Tính hệ thống này được thể hiện qua kết cấu của bài thơ, mà để đọc và hiểu bài thơ đó, không có gì khác là phải tìm cho ra kết cấu của nó.
Theo Xuân Diệu: "Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ, làm thơ khó nhất là tìm tứ". Ông cho rằng: Ý là "...suy nghĩ, khái quát, nhận định", cái này thì ai cũng có, không riêng gì nhà thơ. Nhưng khi ý đã "đầu thai" thành cảm xúc, tình cảm, ý ấy trở thành tứ, đó là "tứ thơ", "ý là chung của mọi người, tứ mới là riêng của mỗi thi sĩ". (Công việc làm thơ, NXB Văn học, 1984). Khi đã nảy ra tứ rồi thì bao giờ cũng có ý cộng với cảm xúc, nhịp điệu, hình tượng,...từ cách nhìn rất riêng của người làm thơ. Như vậy, người làm thơ thường lấy cái ý, cái tứ làm "cốt lõi" của toàn bài, rồi từ đó đi tìm chữ, tìm lời để thể hiện. Có thể coi đó là một "trình tự xuôi" (đi từ lớn đến nhỏ) của người làm thơ. Nhưng người đọc thơ thì đôi khi lại phải theo một "trình tự ngược" (đi từ nhỏ đến lớn": từ chữ, từ lời rồi ngược lên tới ý và tứ). Vậy là, người đọc thơ
phải tìm ra từng "ý nhỏ", "tứ nhỏ" qua mỗi câu thơ, dòng thơ để rồi tiếp cận được cái "cốt lõi" của toàn bài. Có lẽ đây là con đường mà người đọc thơ nào cũng không thể bỏ qua. Và, nếu may mắn, thì người đọc thơ sẽ đọc được "trúng" ý tứ của người làm thơ. Cuộc gặp gỡ này sẽ tạo nên sự "đồng điệu" hay là sự "thanh lọc của phản xạ mĩ học" thật tuyệt vời ở người đọc thơ như nó đã từng đến với người làm thơ!... Và cũng vì thể, có thể nói rằng: người đọc thơ còn là đọc những cảm xúc và suy tưởng từ chính tâm hồn mình. Việc đọc đó, không đơn thuần chỉ là một quá trình "hướng ngoại", hướng đến tác giả và tác phẩm, mà còn là một qúa trình "hướng nội", tức là hướng vào thế giới rộng mở nhưng cũng đầy huyền ảo ở chính bản thân người đọc thơ. Đó là mối quan hệ rất biện chứng giữa tác giả, tác phẩm và người đọc trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và
trong thơ nói riêng. **B.Thẩm* "Thẩm" là suy nghĩ, xét đoán cho thật kĩ lưỡng, tường tận đối với một sự vật, một hiện tượng hay một tác phẩm văn chương. Thẩm có thể được coi là cấp độ khác của "Đọc". Thẩm cần nhìn nhận, soát xét mọi khía cạnh của sự vật hiện tượng, đặc biệt là ở các tác phẩm văn chương với những biện pháp nghệ thuật mà nó đã sử dụng, để tìm ra những điều mà đọc chưa nhìn thấy hết hoặc có thể đã bỏ qua. Chính vì lẽ đó, thẩm được coi là việc làm có chiều sâu hơn đọc, bởi vì nó chỉ ra được cả bể rộng lẫn bề sâu của đối tượng, của vấn đề mà nó khảo sát, để từ đó, làm cơ sở cho việc xác định giá trị của đối tượng hay là của vấn đề mà nó đã xem xét. Vì thế, Thẩm và Bình -* xét về một phương diện nào đó, nó cũng tương
tự như Đọc và Bình, nhưng nhìn nhận kĩ hơn một chút, thì nó đứng ở vị thế có sự đòi hỏi cao hơn. Bởi những lẽ sau: Đọc đương nhiên là cơ sở để Thẩm. Muốn Thẩm thì phải đọc. Không Đọc thì không có gì để Thẩm. Đọc càng kĩ, hiểu càng sâu, thì Thẩm càng thấu đáo. Công việc của Thẩm là xem xét tất cả các phương diện mà Đọc chưa quán xuyến hết. Chẳng hạn như: đọc, đọc -- hiểu, nghiên cứu, cắt nghĩa, phân tích ý, tứ, cấu trúc, thể loại, ngôn từ, chơi thơ, chơi chữ, sử dụng các biện pháp tu từ, nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn của hình tượng thơ...Việc làm này được coi là "giải mã tác phẩm văn chương", mà GS. Phan Trọng Luận (tr.30, Sđd) cho rằng thuật ngữ "giải mã" là phù hợp hơn cả. Cách lựa chọn thuật ngữ này được nhiều người trong giới nghiên cứu và giảng dạy đồng tình và sử dụng, bởi nó thật sự đúng đắn với việc đọc, thẩm và bình
tác phẩm văn chương và bao quát được toàn bộ những công việc, những thao tác mà người đọc, thẩm, bình một tác phẩm văn chương phải quan tâm cho đầy đủ. Như vậy, đọc, thẩm và bình tuy ở những cấp độ khác nhau, nhưng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, cái này bổ sung cho cái kia, làm cho việc nhìn nhận, đánh giá và thưởng thức một tác phẩm văn chương được trọn vẹn, thấu đáo và toàn diện, toàn bích hơn. Trong cuộc sống, mỗi lĩnh vực, người ta thường dùng chữ "Thẩm" để ghép với một chữ khác, tạo thành những thuật ngữ đặc thù. Chẳng hạn, trong nghiên cứu khoa học hoặc trong xây dựng có việc "thẩm định" các công trình để nghiệm thu và đưa vào sử dụng. Trong ngành tư pháp thì có các thuật ngữ: "thẩm tra", "thẩm vấn"..., để chỉ những công việc phải làm trong xét xử các vi phạm về pháp luật, cốt sao cho đối tượng phạm pháp
phải thừa nhận lỗi lầm, hoặc cũng tránh được oan sai...
Còn trong văn chương, thuật ngữ "thẩm bình" thường được sử dụng khi bàn về một tác phẩm nào đó. Thẩm bình là đề cập đến khâu "thưởng thức" cái hay, cái đẹp của một tác phẩm. Thẩm bình không hẳn là lí luận văn học, mà nó chỉ sử dụng các tri thức của lí luận văn học để soi chiếu vào các tác phẩm mà nó xem xét. Thẩm bình cũng không phải là "phê bình", bởi phê bình thường thiên về lí trí, luôn tuân thủ tính chặt chẽ, nghiêm ngặt của lôgic luận lí, mang đậm tính khách quan, khoa học; còn thẩm bình thường thiên về cảm xúc, mang ít nhiều sắc thái chủ quan theo lôgic của tình cảm. Có đôi chút phân định như vậy là để thấy rõ hơn tính chất của việc "thẩm"- một công việc khá bổ ích và lí thú dành cho khâu thưởng thức của hoạt động văn chương. Để "thẩm" được văn chương thường phải có đủ
những tri thức về lí luận để soi chiếu, đồng thời cũng cần có độ tinh nhạy nhất định để nắm bắt "đúng" và "trúng" những trạng thái đa dạng của cảm xúc, mà người viết văn hoặc làm thơ đã khéo léo gửi gắm vào tác phẩm của mình. Làm được như vậy thì đảm bảo được sự hài hòa giữa lí trí và cảm xúc, giữa cái lí và cái tình, mà người làm văn chương nào cũng luôn mong đợi...
**C.Bình* "Bình" được hiểu là bình phẩm hay bình luận. Đây là công việc phải vận dụng tư duy lôgic để phân tích, nhận định, đánh giá một vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...để quảng bá, thuyết phục người đọc, người nghe. Công việc này được coi là vũ khí sắc bén của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm thực hiện chức năng thông tin tuyên truyền. Trong văn chương, việc "bình văn*" đã được ghi lại bằng hình ảnh trong bức tranh sơn dầu mà nhiều ý kiến cho là của Họa sĩ Lê Văn Miến, sáng tác vào khoảng 1898 đến 1905. Bức tranh này mô tả một buổi bình văn của Thầy Đồ và đám học trò nhỏ xung quanh với gam mầu tối là chủ đạo. Đây được coi là bức tranh đầu tiên của hội họa nước nhà. Tác phẩm hiện được
lưu giữ tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam. Như vậy, bình văn được coi là một hoạt động trong sinh hoạt văn hóa, giáo dục vốn đã có từ lâu ở nước ta. Nhìn lại cho thấy: Thời "Đông Kinh Nghĩa Thục" có một hoạt động sôi nổi về giảng dạy và học tập đã từng được nói đến bằng hai câu nổi tiếng một thời: "Buổi diễn thuyết người đông như hội, Kì bình văn khách đến như mưa". Đây là một tổ chức ra đời vào tháng 3 năm 1907 và chấm dứt hoạt động vào tháng 11 năm 1907. Tổ chức này chủ trương cải cách xã hội Việt Nam vào đầu thế kỉ 20 trong thời Pháp thuộc với mục đích là: khai trí cho dân, bằng cách: mở các lớp dạy học không lấy tiền (để đúng với cái tên "nghĩa thục" - trường tư thục vì việc nghĩa), đồng thời tổ chức diễn thuyết, bình văn tại trường vào các tối mồng 1 và rằm hàng tháng. Tổ chức này có hẳn một Ban gọi là:
"Ban cổ động diễn thuyết và bình văn". Các tác phẩm thường được mang ra bình là: Đề tỉnh quốc dân ca (Á tế Á ca), Thiết diễn ca, Hải ngoại huyết thư, Chiêu hồn nước...Các buổi diễn thuyết và bình văn thường thu hút rất đông người, có cả quan lại, viên chức, binh lính cũng dự nghe. Thế là, bình văn đã làm được một việc "động trời" của một thời là: khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc từ các áng văn chương cho mỗi người dân Đất Việt đang trong sự kìm kẹp của thực dân Pháp xâm lược lúc bấy giờ. Bình ở đây cũng được hiểu là bình phẩm, tức là đem việc gì đã làm hay văn chương sách vở đã làm ra để bàn định phải trái, hay dở; hoặc bình cũng có thể được hiểu là đưa ra việc đọc một tác phẩm văn chương theo một cách cảm nhận riêng nào đó để cùng nhiều người thưởng thức. Vậy có
thể hiểu chung: đây là bình phẩm, bình luận tác phẩm văn chương trên cơ sở đã đọc và hiểu, đã phân tích và cắt nghĩa về đủ các phương diện, tức là đã "giải mã" được tác phẩm. Bình là công việc được thực hiện trên cơ sở của đọc và thẩm; công việc này đòi hỏi phải có năng lực về tư duy hình tượng, tư duy nghệ thuật và năng khiếu thẩm mĩ khá tinh tế. Đọc và thẩm mà hiểu thấu để nắm bắt được "cái thần" của tác phẩm thì việc bình sẽ "đúng" và "trúng" hơn. Còn ngược lại, đọc và thẩm mà chưa thấu tình, chưa đạt lí thì việc bình sẽ trở nên lạc điệu, nhạt nhẽo, thiếu sức thuyết phục hay là khó cảm hóa đối với người đọc, người nghe...
**Đôi lời kết* Như vậy, đọc, thẩm và bình* có thể coi là một "chuỗi" hoạt động có tính liên đới nhằm tìm hiểu một tác phẩm văn chương, và các hoạt động này, đôi khi cũng đem lại những điều khá thú vị. Đó là lúc người đọc, thẩm và bình chỉ ra được những cái hay và cái đẹp mà người sáng tác đã dụng công chắt chiu, gửi gắm. Và cũng có khi còn chỉ ra được cả những điều mà người sáng tác chưa hề nghĩ tới hoặc không hề đặt ra, nhưng nó lại do ý nghĩa khách quan của tác phẩm mang lại. Điều ấy, có lẽ là do chút "duyên thầm" giữa người sáng tác và người đọc, thẩm và bình mà nên. Và, có được điều ấy xảy ra, âu cũng là lẽ thường tình của việc đọc, thẩm và bình vậy!...
Thế nên, dẫu đã biết rằng: Đọc, thẩm và bình những trang thơ của các đồng nghiệp là một việc làm thật lí thú, nhưng cũng không ít khó khăn. Bởi lẽ, đọc, thẩm và bình đều là xuất phát từ một cá nhân, một công việc có phần tự do, cảm tính và thường mang đậm tính chủ quan. Biết là như vậy, nên việc đọc, thẩm và bình ở đây luôn có ý thức tiếp cận tác phẩm của các tác giả sao cho thật sự khách quan, tức là dù có nói về tình yêu hay nỗi nhớ trong tác phẩm, thì vẫn phải tuân thủ những quy luật của nhận thức nói chung, đồng thời cũng phải tuân theo lôgíc tình cảm của con người nói riêng. Chính vì lẽ đó mà việc đọc, thẩm và bình luôn phải giữ được sao cho đúng mức giữa "cái khen" và "cái chê", để khen và chê đều ở chừng mực có thể chấp nhận được, không vượt quá cái "ngưỡng" cần thiết phải có, tức là không "quá lời", làm cho người được khen cảm
thấy "ái ngại" về cái được khen, và làm cho người bị chê thấy không thật hài lòng về cái bị chê. Đi được giữa hai bờ "khen - chê" ấy luôn đòi hỏi việc đọc, thẩm và bình phải thật tỉnh táo, không để cho điều này lấn át mất điều kia...Để làm được điều ấy, cần luôn nhớ tới những lời mà Lê Quý Đôn đã từng nhắc nhở: "Người ta nên tự nhắc mình xem thế nào. Dù cho tài tử tốt đẹp hơn cả mọi người trong một thời đại, cũng không ra ngoài được ranh giới, phên dậu, của tiền bối. Thế mà dám khoe khoang, khinh bạc, chê bai, chẳng phải cũng quái gở lắm ru? Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến mỗi người mỗi khác nhau, phân tích thì được, chứ không nên chê mắng". (Vân đài loại ngữ, tr.245). Cũng cần phải nói rằng: Đọc, Thẩm và Bình là "ba khâu liên hoàn" tạo nên sự thấu hiểu và cảm nhận đầy đủ, sâu sắc về một tác phẩm văn chương.
Để đọc, thẩm và bình về một tác phẩm với những cái hay, cái đẹp của nó, thì phải làm cho cái hay, cái đẹp ở chính tác phẩm đó được "tỏa hương", chứ không thể đem những cái hay, cái đẹp từ đâu đó mà "gán" vào cho nó. Điều này là tối kị, cần phải tránh, bởi nó sẽ làm phương hại không những cho tác phẩm, mà còn cho cả việc đọc, thẩm và bình về tác phẩm đó trở nên lạc lõng, thiếu sức thuyết phục. Ý thức là như vậy, nhưng trong thực tế đọc, thẩm và bình ở sách này, rất có thể sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, làm cho tác giả này hay tác giả kia có chút "phật lòng", vì có những điều người làm thơ muốn gửi gắm, mà người đọc, thẩm và bình lại chẳng nói được ra, hoặc có nói được ra mà vẫn còn bỏ sót hay vẫn còn hời hợt...Nếu có điều như vậy, thì người làm sách này rất mong được các tác giả chỉ dẫn, để việc *đọc,
thẩm và bình* trở nên có ý nghĩa hơn...
Hà Nội, 2017 - 2021