Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

VỀ "MÂY TRẮNG XỨ ĐOÀI"

Trích từThơ và Văn (2025)· C. Thẩm bình Văn chương· tr.205

Thơ của Nguyễn Xuân Oanh

1.Đôi nét tản mạn về Mây và Mây trắng Xứ Đoài

Có một điều khá thú vị mà mỗi người dân Đất Việt đều ghi nhận: Trên đất nước mình có rất nhiều nơi được gọi là "Xứ". Chẳng hạn như: Xứ Lạng, Xứ Thái, Xứ Mường, Xứ Đông, Xứ Đoài, Xứ Thanh, Xứ Nghệ, Xứ Đàng Trong, Xứ Quảng, Xứ Dừa, Xứ Tràm Chim...Mỗi "Xứ" đều mang theo mình những nét rất riêng, được coi như là một thứ "đặc sản", để khi nhắc tới là người ta có thể "định danh", "định vị" và nhận ra ngay cái "Xứ" đó ở đâu, có nét gì đáng nhớ...

Mây trên trời có đủ màu, đủ sắc và lãng đãng bay lượn khắp nơi trên mọi nẻo tầng không. Mây là biểu trưng cho cái vô định của cả không gian và thởi gian. Mây luôn luôn di chuyển và biến hình: lúc này là "Bạch vân", khi khác lại là "Thương cẩu"! Không gian sinh tồn của Mây có thể là khoảng trống mênh mang vô định trong vũ trụ bao la, chẳng biết tới đâu là bến là bờ; cũng có thể là những biến thiên của lịch sử, xã hội rất hữu hạn ở một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ nào đó...Mây thường được coi là biểu tượng của Tự do, không bị bất cứ thứ gì ràng buộc; Mây trắng lại được coi là biểu tượng của sự tiêu dao, lãng du, cao thượng và thanh khiết. Sự hòa nhập của Tự do, Tiêu dao, Lãng du, Cao thượng và Thanh khiết chính là một sự kết đọng tuyệt vời trong những làn Mây trắng, để khi đi vào văn chương, đến với hồn người, nó như được chất chứa thêm

nhiều tầng ý nghĩa!...Và kì diệu thay, áng Mây trắng này lại được bầu trời của Xứ Đoài sở hữu. Vậy Xứ Đoài có nét gì đặc biệt và "Mây trắng" liệu có phải là "đặc sản" của Xứ Đoài hay chăng? Xứ Đoài nằm ở phía Tây Kinh thành Thăng Long cổ kính, nó đối xứng với Xứ Đông là dải đồng bằng tít tắp chạy xuôi ra phía Biển Đông. Xứ Đoài có ngọn Ba Vì gắn với "Tản Viên Sơn Thánh," là Núi Tổ của các ngọn núi trên đất Việt, dù chỉ cao có 1296m, nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng cả về mặt địa lí, lẫn vị trí độc tôn trong Tâm linh người Việt, bởi đây là ngọn núi Linh thiêng của những truyền thuyết về thời mở nước của dân tộc ta. Có lẽ, chính ngọn núi thuộc về "Tứ bất tử" này trong tín ngưỡng của người Việt nằm trọn vẹn ở Xứ Đoài, nên Mây trắng trên bầu trời Xứ Đoài có phần Trắng đặc biệt hơn, Linh thiêng hơn ở những nơi khác hay chăng?

Mây trắng trên bầu trời Xứ Đoài có thể là yếu tố nội sinh, được hình thành từ trời đất núi sông của xứ này, cũng có thể từ những vùng khác kéo đến, nhưng đã đến Xứ Đoài thì đều được nhuốm màu linh thiêng của xứ này. Mây trắng ở đây quả thật là một thứ "đặc hữu" của Xứ Đoài, mà chẳng nơi nào có thế sánh được! Đúng như câu thơ của Quang Dũng để lại: "Tôi nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm" trong "Đôi mắt người Sơn Tây"...

Tản mạn đôi điều về các "Xứ" ở nước ta, về Mây và Mây trắng Xứ Đoài là để nói về một vùng "Địa linh, Nhân kiệt", một vùng đất khơi nguồn cho những cảm hứng văn chương. Có thể nói, trong văn chương hiện đại Việt Nam, nhà thơ Quang Dũng là người khởi đầu, đã nắm bắt được "Cái Hồn" của Mây trắng Xứ Đoài và để lại những câu thơ cứ neo đậu mãi với Hồn người:

- Tôi nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm

Em đã bao ngày em nhớ thương?...

- Tóc anh đã thành mây trắng,

Mắt em dáng thời gian qua.

- Ba Vì tảng trán xanh

Thức với mây Đoài trắng xóa...

Đó là những câu thơ gắn với những cảm hứng từ Xứ Đoài trong tập "Mây đầu ô" (1986), tập thơ duy nhất của Quang Dũng. Gần đây, năm 2018, cũng với những cảm hứng từ Xứ Đoài, cuốn tiểu thuyết "Xứ Đoài mây trắng" (NXB Hội Nhà văn) của Nguyễn Sơn Đỗng đã đến với người đọc. Sách viết về đời sống của làng quê Xứ Đoài nói riêng và làng quê của đồng bằng Bắc bộ nói chung trong những năm đầu của thế kỉ XX, trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngay sau khi trình làng, sách đã được sự quan tâm của các nhà chuyên môn và đông đảo bạn đọc. Và gần đây nữa, năm 2019, tập thơ "Mây trắng Xứ Đoài",Tập 1, (NXB Hà Nội), rồi bây giờ là Tập 2, của nhà giáo Nguyễn Xuân Oanh cũng đến với bạn đọc. Và biết đâu, sẽ còn nhiều nhiều những áng mây trắng Xứ Đoài tiếp tục lượn bay...Bài viết này sẽ dành nhiều hơn để viết về *Mây trắng

Xứ Đoài, Tập 2 của Nguyễn Xuân Oanh. *2. Về Mây trắng Xứ Đoài** (Tập 2) của Nguyễn Xuân Oanh Là một thầy giáo, được sinh trưởng ở Xứ Đoài, lại được đi qua nhiều vùng miền của đất nước, Nguyễn Xuân Oanh luôn trăn trở với từng trang giáo án, nhưng cũng nặng lòng với chữ nghĩa, văn chương và đã dành không ít tâm lực cho thơ, để gửi gắm tình cảm của mình trong những không gian và những thời thời khắc khác nhau của đời sống...

Nguyễn Xuân Oanh quan niệm về "nguồn mạch" của thơ không có gì là cao xa, khó với tới, mà thơ có ngay trong cuộc sống thường nhật quanh mình, nó rất gần gũi với đời sống con người, chỉ có điều, người làm thơ có con mắt để nhận ra và nắm bắt lấy cái được gọi là "thơ" hay không mà thôi:

Xưa tưởng là thơ rất xa

Nay thì mới biết xem ra cũng gần.

Thơ ngay ngoài ngõ trong sân

Thơ như mộng lúa mùa xuân trên đồng...

(Thơ cũng gần)

Quan niệm như vậy, nên Nguyễn Xuân Oanh cũng thật giản dị khi nghĩ rằng: thơ của mình chỉ là "viết chơi", chứ "không bán":

Không bán thơ đâu, tôi viết chơi

Vài câu thơ thẩn lúc buồn vui

Ai khen cũng được, chê cũng được

Thế mới sinh ra cái chuyện đời.

(Vài câu thơ thẩn)

Nói là vậy, nhưng chưa hẳn đã là vậy! Nguyễn Xuân Oanh vẫn "để mắt" và "cất công" đi tìm những cái hay, cái đẹp trong những nguồn mạch thơ ấy. Tác giả đã ghi lại được những tình cảm đẹp với gia đình, với bằng hữu, với quê hương và đất nước...

Với gia đình: tác giả có loạt bài khá ấn tượng viết về những tình cảm gắn bó ruột thịt với anh em, con cháu (Chuyện sinh hoạt, Thêm cháu, Cháu mua nhà, Ông kể chuyện, Mừng con, Thương mẹ, Mẹ của các con, Thương em...). Những tình cảm ấy đều xuất phát từ đáy lòng, theo nhịp đập của con tim đa cảm, khiến cho người đọc cũng có phần sẻ chia, đồng cảm. Chẳng hạn như những dòng thơ này:

Về hưu sức khỏe yếu dần

Đồng lương ít ỏi, tảo tần sớm trưa.

Mái đầu tóc đã bạc thưa

Làn da tươi tắn bây giờ đã nhăn.

Bao giờ cho hết khó khăn

Để em tôi được thêm phần nghỉ ngơi.

(Thương em)

Với bằng hữu: tác giả có nhiều bài ghi nhận về tình bạn, tình đồng đội (Chuyện xưa chiến sĩ, Bạn thơ, Vui cùng thi hữu, Hỏi thăm, Gặp đồng hương, Tình đồng đội...). Đó là cái thắm thiết, thủy chung, sâu nặng nghĩa tình:

Năm mươi năm gặp lại nhau,

Nghĩa tình đồng đội: Bạc đầu không quên.

(Tình đồng đội)

Với quê hương, đất nước: Nguyễn Xuân Oanh có nhiều bài viết về Xứ Đoài quê mình, về những vùng miền, những danh lam, thắng cảnh có dịp được ghé thăm (Về Xứ Đoài, Nhớ làng quê, Làng quê yêu quý, Về thăm K9, Non nước Hạ Long, Thủ đô yêu dấu, Về Đường Lâm, Ngắm Mây bay, Sen Thắm Đồng quê, Hà Nội trong tôi, Đà Lạt mến yêu, Động Tiên cô, Chùa Bái Đính, Về Hội An, Thăm cù lao Chàm...). Tình yêu quê hương thắm thiết đến mức hào phóng: "Vi vu bản nhạc sáo diều, Trăng thanh gió mát tình yêu quê nhà, Bầu trời lấp lánh sao sa, Chia cho hàng xóm mỗi nhà mấy ông", đã là cái gốc, là ngọn nguồn cho tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc được gửi gắm trong những trang thơ của Nguyễn Xuân Oanh:

Biển trời Tổ quốc bao la

Bắc Nam sông núi đều là quê hương.

Nghĩa tình sâu nặng yêu thương

Biết bao thế hệ máu xương giữ gìn...

(Quê hương)

Với những thói hư, tật xấu: Đây là điểm khá nổi bật trong tập thơ của Nguyễn Xuân Oanh bằng loạt bài: Mốt, Thằng em, Lục bát khôi hài, Cái ô, Mót ghế, Số lười, Chuyện chỉ tiêu, Quên kỷ cương, Nửa mừng nửa lo, Thơ ông, Thằng Cuội, Thi chạy,...Ở loạt bài này, người đọc nhận ra ở Nguyễn Xuân Oanh một "nhiệt tình" và "trách nhiệm" công dân bùng dậy khá mạnh mẽ. Tác giả đã quan tâm đến "muôn mặt đời thường" của cuộc sống gia đình và xã hội. Tác giả khái quát từ loại "anh hùng phố xá" ở cấp "hạ tầng" như thế này:

Thế gian lắm chuyện nực cười

Văn minh thời đại "Đười ươi" cũng nhiều.

Nhiều "sư phụ' với "tiểu yêu,

Cũng nhiều "đồ đệ" lại nhiều "đại ca".

(Mốt)

Đến các quan tham ở cấp "thượng tầng": "Ô nhỏ" lên mặt dạy đời

"Ô to" có lúc coi trời bằng vung,

Đa số là "Ô hạng trung"

Nịnh trên, nạt dưới, tâng công, làm càn.

(Cái ô)

Rồi mong muốn có "một liều thuốc chữa": "Để cho xã hội công minh, Hãy mau loại bỏ điền kinh lạ kỳ" (Thi chạy). Và đến cả những kẻ học đòi "thơ thẩn":

Xưa nào đâu biết làm thơ

Gần đây ậm ự, u ơ mấy bài

Viết thì chính tả còn sai

Đọc thì vần luật ngang tai phè phè

Thế mà ông lại cứ khoe

"Công việc bộn bề lại bận làm thơ"

Ông tham gia cả hội cờ

Ông rằng: "Khoái nhất hội thơ chúng mình"

Thơ ông ướt át "chữ tình"

Hứng lên chén chú, chén anh chúc mừng

Tửu thơ, thơ tửu ta cùng

Vợ con lắm lúc phát khùng vì thơ.

(Thơ ông)

Có thể nhận ra rằng, giọng điệu phê phán của tác giả là khá mạnh mẽ, giàu chất khôi hài, hóm hỉnh. Cái "khôi hài", "hóm hỉnh" này may ra sẽ thức tỉnh được những ai giàu trí "tưởng bở", nhưng vẫn chưa đến mức quá si mê, đắm đuối với những cái hão huyền không thuộc về mình!...

Bên cạnh những "Chùm thơ" nói trên, Nguyễn Xuân Oanh còn có khá nhiều những bài để có thể hợp thành các Chùm thơ khác về các chủ đề: Thế sự, Tình yêu khi còn trẻ và lúc về già, Mừng Xuân, Mừng thọ, Quên tuổi già...Nói như thế để thấy rằng: Thơ Nguyễn Xuân Oanh thể hiện được vốn sống, vốn kinh lịch khá đa chiều, đa dạng trong những trang viết của mình...

Cách viết của Nguyễn Xuân Oanh cũng khá thanh thoát, phóng khoáng, nhiều bài mang đậm tính "ẩn dụ", khơi gợi được nhiều hướng suy tư, ngẫm nghĩ cho người đọc (Chim chào mào, Lời ru, Việc bình dân, Thằng Cuội, Được thời cơ, Lạc sóng,...). Thơ Nguyễn Xuân Oanh thiên về kểtả. Đôi khi "ham" kể và tả quá làm cho cấu tứ thơ có phần "loãng" đi, tính liên kết vì thế mà có phần không thật chặt chẽ. Tác giả sử dụng nhiều thể thơ, những nhiều hơn cả vẫn là thơ lục bát truyền thống. Song vì chạy theo ý tứ, mà đôi lúc tác giả phải "ép vần" gây nên sự trúc trắc, khó đọc cho những câu thơ lục bát vốn rất êm ả, nhuần nhị...

Nguyễn Xuân Oanh viết khá nhiều và nghĩ rằng đây như là sự "trả nghĩa" đối với việc đọc sách của thiên hạ bấy nay, như con tằm đến lúc nhả tơ và cũng là để "góp mặt" với đời. Tác giả đã bộc bạch một cách thật chân thành mà cũng thật khiêm nhường, dung dị:

Đọc sách cuả người bao nhiêu quyển

Nay mình cũng góp một vài trang

Đâu dám đua chen cùng thiên hạ

Mộc mạc vui chung hội giáo làng.

Gần gũi cây na cùng cây mít

Ươm mầm, gieo hạt đợi mùa sang!

Thưởng thức hoa thơm cùng trái ngọt

Bát ngát đồng quê thảm lúa vàng!

(Vui chung)

**3. Lời kết* Xứ Đoài là một vùng Đất thiêng -- Đất của Hai Vua, của Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), của Giang Văn Minh -- vị sứ thần "Bất nhục quân mệnh*" (Không để vua bị nhục),...và của rất nhiều danh thần, danh nhân khác nữa từ cổ chí kim...Nói cách khác, đây là một vùng đất "Địa linh, Nhân kiệt" của nước Việt. Xứ Đoài Cũng có thể gọi là "Xứ thơ", bởi là nơi khơi nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn chương ra đời. Thật vinh dự cho những ai đã được sinh trưởng ở vùng đất này vả tiếp nhận được những nguồn mạch văn chương, để có được những trang thơ, trang văn cho muôn người thưởng thức. Nguyễn Xuân Oanh đã có được niềm vinh dự đó với những bài thơ về xứ sở của mình và đưa ra góp mặt. Người đọc mong rằng tác giả cứ tiếp tục lao động miệt

mài ở Xứ thơ này, để có thêm những áng "Mây trắng Xứ Đoài" tươi mới hơn nữa...

Mây trắng trên khung trời Xứ Đoài sẽ cứ còn bay mãi, bay mãi để khơi nguồn cho những Hồn thơ, không chỉ là ở những người con của Xứ này, mà cho cả những Hồn thơ Nước Việt, luôn hướng về vùng "Địa linh, Nhân kiệt" của Tổ tiên. Mây trắng ấy, như có cái gì đó phảng phất với hồn thơ Thôi Hiệu: "Bạch vân thiên tải không du du" (Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay"...

Hà Nội, Mùa Xuân Năm Tân Sửu, 2021