Cao Đức Tiến

Tuyển tập văn

VỀ THƠ CỦA NHÀ GIÁO TRẦN THÂN MỘC

Trích từThơ và Văn (2025)· C. Thẩm bình Văn chương· tr.186

Tiểu dẫn: Nhà giáo Trần Thân Mộc là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ nhà giáo, thuộc Ban Tuyên huấn của Trung ương Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam. Là người có công lớn trong việc đề xuất ấn phẩm thơ mang tên "Tấm lòng nhà giáo". Ấn phẩm này được coi là "Sân chơi" của các nhà giáo, thu hút được đông đảo các giáo chức từ Bắc chí Nam cùng đóng góp những trang thơ của mình, tạo nên một ấn phẩm có chỗ đứng nhất định trong Ngành Giáo dục nước nhà. Ấn phẩm này đã tồn tại trong nhiều năm với hơn 20 tập thơ đã ra đời. Nhắc tới ấn phẩm này, người ta không thể quên một cái tên thân thuộc: Trần Thân Mộc! *Bên cạnh việc điều hành hoạt động của Câu lạc bộ để có được những sản phẩm chung, nhà giáo Trần Thân Mộc cũng cho ra mắt bạn đọc nhiều tập thơ riêng để thể hiện nỗi niềm "Say thơ" của mình. Bài viết dưới đây là nói

về cái "Say" ấy của tác giả này. Năm nay, Nhà giáo Trần Thân Mộc đã bước vào tuổi Chín mươi, tuổi của Cõi: Thượng Thượng Thọ! Ông có tới bảy mươi năm dạy học và làm thơ. Ông đã cho ra mắt bạn đọc các tập: "Nguồn nước Giếng Tiên" (2001), "Đẹp trang đời" (2005) và nhiều tập in chung khác nữa, tất cả có tới hàng trăm bài. Gần đây, ông chọn lựa trong những sáng tác của mình, "chắt" ra được 44 bài cho là "tâm đắc" và in thành tập "Ta say thơ" (2021). Trong "Cõi Người Ta" có lắm thứ để say: say tình, say rượu, say nắng, say gió, say những miền đất lạ...Quả thật là có lắm thứ để người ta "Say"! Có người thì say một thứ, có người thì say một vài thứ, có người thì say đủ thứ...Có người lại chọn một thứ say khá đặc biệt: "Say Thơ!"...*Đây là thứ say thuộc lĩnh vực sáng tạo, khá tinh tế của thế

giới nghệ thuật ngôn từ. Tác giả Trần Thân Mộc là người đã chọn thứ say này, hay nói cách khác: Ông đã bị "chất men say" này hấp dẫn và cuốn hút! Chúng ta hãy xem, ông đã bị hấp dẫn và cuốn hút vào cái say này như thế nào đây.

I.NGỌN NGUỒN CỦA SỰ "SAY THƠ"

Tác giả Trần Thân Mộc được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống làm nghề dạy học, một cái nghề giàu tính nhân văn, đậm tình nhân ái đối với con người và cuộc đời...Đất Quảng Nam là mảnh đất đã được người đời từ xa xưa từng nhắc đến với câu hát thấm đượm ân tình, xao xuyến mỗi con tim: "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm; Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say"...Những câu hát này như là lời tự bạch về Xứ Quảng, nơi có Đất đai và Sản vật rất giàu tính nhạy cảm: Đất thì "chưa mưa đà thấm"; Rượu thì "chưa nhấm đà say!". Đó là sự nhạy cảm đến mức tinh tế, mà "độ bén" cũng ở mức "vi diệu" trong mỗi con người Xứ Quảng...Có phải vì thế mà xứ sở này, như là một vùng "địa linh, nhân kiệt", đã chung đúc nên nhiều danh nhân của đất nước như: Thoại Ngọc Hầu, Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Lê Đình Thám, Phan Châu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Huỳnh

Thúc Kháng?...Và có lẽ, do được thụ hưởng cái "linh khí" của quê hương xứ sở, cái truyền thống giáo dục của gia đình, sự không ngừng tu dưỡng của bản thân...là những nguồn mạch để hồn thơ Trần Thân Mộc có được cơ duyên cất cánh? Quả đúng như vậy. Trần Thân Mộc có một quá trình tự học và tu dưỡng khá lâu dài từ 1949 đến 1993. Ban đầu, ông là giáo viên Trường Bổ túc văn hóa cán bộ, rồi là giáo viên Trường cấp II và giáo viên Trường Bổ túc công nông ở Quảng Nam Đà Nẵng quê nhà. Khi ra Bắc, ông tiếp tục là giáo viên cấp II ở Bắc Ninh, là giáo viên thỉnh giảng môn Chính trị ở 3 cấp III Hàn Thuyên, rồi trở thành Giảng viên môn Triết học Trường ĐHSP Hà Nội; tiếp đó, ông là Chuyên viên cao cấp của Bộ Giáo dục, là Chuyên gia ĐHSP Lào, là Trưởng đoàn Chuyên gia giáo dục tại Angôla. Đó là một chặng

đường rất đáng ngưỡng mộ! Đối với Văn chương, Trần Thân Mộc đã có nhiều tập văn và đặc biệt là thơ (Nguồn nước Giếng Tiên, Đẹp trang đời...). Ông từng đồng thời làm Chủ nhiệm và điều hành hoạt động của hai Câu lạc bộ: CLB Thơ Chương Dương (1996 -2011) và CLB Thơ Nhà giáo (1997 - 2012). Cả hai Câu lạc bộ đã có tới hơn ba mươi ấn phẩm và để lại nhiều dấu ấn sâu đậm đối với bạn đọc trong và ngoài ngành giáo dục...

Tất cả những yếu tố kể trên (về quê hương, gia đình, sự tu dưỡng bản thân, điều hành và tham gia hoạt động thơ ở các Câu lạc bộ...), có thể coi là ngọn nguồn cho Trần Thân Mộc: Say thơ!...Và bài SAY THƠ của ông cũng ra đời trong quá trình "lao động thơ" ấy. Bài thơ này ông viết là để "Tặng các bạn đã hết mình vì thơ":

Ta say thơ cho hoa ngát hương đời

Cho bướm lượn đùa vui cùng ban trắng

Cho sơn nữ đợi chờ bên suối vắng

Cho ngày đông đón tia nắng mặt trời'

Ta say thơ cho vần đượm tình người

Cho thêm duyên "thiên lí năng tương ngộ"

Cho thi hội thành đất lành chim đậu

Cho đời êm ấm, cho sức trẻ tươi.

Ta say thơ cho tứ mới sáng ngời

Cho đất nước như cánh diều bay bổng

Cho câu chữ thành muôn hoa cuộc sống

Cho hương xuân tỏa rộng khắp nơi nơi.

Thật khá rõ ràng: Bài thơ được viết với ý tứ không hẳn là cho riêng mình, mà như là cho chung tất cả các bạn yêu thơ có cùng chí hướng. Vì thế, Cái "Ta" ở đây cũng không hẳn là nghiêng về ngôi Thứ nhất số ít, mà phần lớn lại nghiêng về ngôi Thứ nhất số nhiều...Thành ra, bài thơ như một "Tuyên ngôn" cho cái "SAY" của những người yêu thích Thơ. Đây không phải là cái say trong "lơi lả ánh đèn" hay trong các "cung bậc ngả nghiêng" và "say không còn biết chi đời" (Vũ Hoàng Chương), mà là cái say trong sự tỉnh táo, một cái say có sự định hình, định hướng thật trong trẻo, tường minh: Ta say thơ cho hoa ngát hương đời; Ta say thơ cho vần đượm tình người; Ta say thơ cho tứ mới sáng ngời...Cái Say thơ của Trần Thân Mộc có ngọn nguồn tươi mát và vững chắc, đã tỏ ra có sức hấp dẫn, lan tỏa và cuốn hút các bạn thơ. Cái say tưởng như rất riêng mà

lại hóa thành cái say chung. Một cái "Say" thật đáng quý!...

II.NỘI TÌNH CỦA SỰ "SAY THƠ"

Điểm nổi bật trong sự say thơ của Trần Thân Mộc là những "Khối tình" lớn nhỏ mà ông đã dày công vun đắp và trân trọng trong suốt cả cuộc đời dạy học và làm thơ. Có thể nhận ra những Khối tình của tác giả được trải dài và tỏa rộng trên bốn mươi tư bài được coi là "tâm đắc" được tụ hội về trong tập Say thơ này. Đó là cái tình sâu nặng đối với những người thân thương ruột thịt. Nhân vào dịp kỉ niệm 105 năm ngày sinh của Ba và 109 năm ngày sinh của Mạ, nhớ về "một gia đình hơn chục giáo viên", ông đã viết: "Kính cẩn dâng hương Ông Bà, Ba Mạ / Nghĩa tình sâu nặng xúc động hàn huyên/ Gia phong nhà giáo lưu truyền mãi mãi/ Nét đẹp đời người, tài sản thiêng liêng" (Nét đẹp đời người). Một gia đình lớn, có nhiều người làm nghề dạy học, thật đáng tự hào và luôn biết ơn ông bà, cha mẹ. Khi viếng mộ người

em gái út của dòng họ sớm về với tổ tiên, ông viết: "Anh em ta mãi thương nhau/ Sao em đi trước, ngờ đâu, hỡi trời?" . Một câu hỏi không có lời đáp, một nỗi đau xé lòng của tình máu mủ ruột rà, ông xót xa viết: "Em ơi, máu chảy ruột mềm/ Dẫu cho đứt ruột, vẫn liền như xưa" (Ngờ đâu). Rồi là nỗi đau mất chị ruột (Chị ơi!), đặc biệt là mất người anh rể mà ông từng coi như anh ruột, ông xót thương viết: "Đột ngột anh đi, ôi hỡi ôi/ Nhớ thương vô hạn lệ tuôn rơi/...Tiễn anh, anh rể như anh ruột/ Về cõi vĩnh hằng sống thảnh thơi" (Nhớ thương Anh). Bên cạnh những nỗi đau mất mát người thân, Trần Thân Mộc cũng dành không ít những dòng thơ cho tình yêu đôi lứa. Có những dòng thơ, khi đọc lên lại có sức tạo liên tưởng, nhắc nhớ cho nhiều người: "Yêu em mong ngày đến/ Bên em anh càng yêu nhiều/ Yêu anh mong ngày đến/ Bên em anh càng

yêu thêm" (Hoa nở bên bờ suối". Và có những dòng tác giả viết về tình yêu của chính mình khi ở tuổi ngoài đôi mươi, cái tình của lứa đôi, mặn mà, đằm thắm, gắn bó bền chặt với những kỉ vật thân thương:

Yêu tha thiết, ta yêu nhau tha thiết

Không rời được những mũi đan đặc biệt

Ghi tình anh trên chiếc áo len xanh

Không xa được chiếc khăn quàng "Thống nhất"

Ghi tình em mãi mãi bên anh

Cùng nhau ta giữ tuổi xanh

Xây đài hạnh phúc Em - Anh trọn đời.

(Tha thiết)

Vượt lên trên những tình cảm về gia đình và bản thân, Trần Thân Mộc dành khá nhiều trang viết về quê hương, đất nước và các danh nhân. Với quê hương, ông coi đây là vùng "đất thiêng" và luôn nhớ về: "Vượt qua trăm dặm nhớ về/ Hoàng Sa huyện đảo, lời thề còn đây/ Hồng Đào chưa nhấm đà say/ Chưa mưa đà thấm, đất này đất thiêng" (Đất thiêng); ông cũng rất nhớ về Tiên Đóa, nơi có cái Giếng Tiên (tương truyền rằng xưa có Tiên giáng trần đến tắm mát), một cái giếng của làng quanh năm không vơi cạn, ngay cả khi nắng hạn khô khan. Ông lớn lên bằng giếng nước của Làng, cho đến khi trưởng thành, đã đến được nhiều nơi, đã làm được nhiều việc, và lúc nào cũng sáng một chữ "Tâm":

Mãi mãi trong tôi chữ "Tâm" trong sáng

Học tập luyện rèn, giữ đạo Hiếu - Trung

Vì tương lai, vì sự nghiệp anh hùng

Kỳ diệu vô cùng, nguồn nước Giếng Tiên.

(Nguồn nước Giếng Tiên). Với đất nước, Trần Thân Mộc luôn để mắt dõi theo từng sự đổi thay qua năm tháng, nhất là trong mỗi dịp xuân về bằng những lời chào Xuân... Và chỉ bằng một khúc "thủ vĩ ngâm" đã khá đủ để tác giả tỏ bày tấm lòng với đất nước:

Mậu Tuất xuân về đất nở hoa

Hoa tươi thơm mát tỏa muôn nhà:

Bình quân thu nhập tầm vươn mới

A-PEC đăng cai tiếng vọng xa

Tham nhũng tiễu trừ không cấm kỵ

Đa phương hồ hởi khéo giao hòa

Mạnh giàu khởi nghiệp từ ngàn nẻo

Mậu Tuất xuân về đất nở hoa.

(Đất nở hoa)

Yêu đất nước, nhớ quê hương, tác giả Trần Thân Mộc cũng dành nhiều bài để bày tỏ sự ngưỡng mộ và kính trọng với các Danh nhân của đất nước. Khi dâng hương ở đền thờ Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, ông viết: "Say say hương sắc Nghi Xuân/ Gió sương vang vọng câu thần bút hoa", để rồi liên tưởng đến những nét đặc sắc của hai tượng đài thi ca của Sông Lam, Núi Hồng, cũng là để kết nối xưa -- nay và suy ngẫm: "Trước đền ngắm cảnh nhớ người/ Nghìn năm sau vẫn đượm lời quê hương/ Rỡ ràng nếp đất văn chương/ Thơ hay, trí sáng mở đường phồn vinh" (Hương sắc Nghi Xuân). Với những danh nhân thời hiện đại, Trần Thân Mộc có những dòng thơ như đúc kết và ngợi ca về cuộc đời và sự nghiệp của mỗi người. Nhớ về lãnh tụ Trường Chinh, ông viết:

Nhớ "Là thi sĩ" cao tâm khí

Nhớ "Bản đề cương" thấu lý tình

Nhớ mãi công ơn người lãnh tụ

Nguyện noi gương sáng bậc hiền minh

(Nhớ mãi)

Kính viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông viết:

Nam Bắc Đông Tây tràn nước mắt

Vũng Chùa - Đảo Yến rực phương trời

Vĩnh hằng cõi đẹp người thành Thánh

"Đại nghĩa" kiên trì giữ biển khơi.

(Còn mãi giữa lòng dân)

Và đặc biệt là đối với Bác Hồ, ông đã dành nhiều tâm lực để dịch thơ Bác và ghi nhận một nét rất nhỏ trong cuộc đời vĩ đại của Bác là việc tự học:

Sức tuy yếu Bác vẫn còn học tiếp

Thành thạo rồi học nữa vẫn là hay

Từ điển Việt - Anh, hai lăm tháng tám

Thêm hai từ mới chỉ trong một ngày

Tấm gương tự học sáng ngời

Để cho con cháu suốt đời noi theo.

(Tấm gương sáng ngời)

Cho tới nay, Trần Thân Mộc đã có tới 70 năm tuổi Đảng. Ông từng tâm niệm phải giữ trọn đạo Hiếu - Trung. Ông ca ngợi Đảng bằng một bài "Khoán thủ vĩ" khá đặc sắc về Đảng là của Dân, Đảng luôn hành động vì hạnh phúc của Dân. Đảng đã có được lòng Dân thì coi như đã có sự hòa hợp của "Ý Đảng, Lòng Dân", đó cũng chính là Bảo vật Quốc gia vậy:

ĐẢNG tám lăm xuân tràn chất ĐẢNG

TA yêu quốc bảo đáy lòng TA

THUẬN sông thuận núi nên đồng THUẬN

HÒA Bắc hòa Nam tất hợp HÒA

TRIỆU tộc một lòng tình vạn TRIỆU

NHÀ nhà chung sức kết muôn NHÀ

HÁT mừng quốc bảo cùng vui HÁT

CA khúc lòng dân đậm húc CA

(Quốc bảo lòng dân)

Ca ngợi Đảng, tin yêu Đảng, ông càng khẳng định chắc chắn niềm tin của mình vào đường lối đúng đắn của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay:

Uy tín, cảm tình trên thế giới

Sáng đường vững lối cả trong ngoài

Nhờ lo triệt để trừ tham nhũng

Nên chất anh hùng chẳng nhạt phai.

(Niềm tin)

Nghĩ về Đất nước có được cơ đồ như ngày nay, Trần Thân Mộc không quên nghĩ đến công ơn của những người mẹ anh hùng, những liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Dân tộc. Ông dành những dòng thơ đẹp nhất để khắc họa hình ảnh Người mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Điền, mẹ có tới 11 người thân hy sinh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc:

Nắng chiều rạo rực đất Bình Giang

Dáng mẹ khoan thai lộng nghĩa trang

... Mẹ đón người thân về với mẹ

Ung dung, thanh thản phút trần hoàn

(Mẹ anh hùng viếng nghĩa trang)

Mất mát, hy sinh quá nhiều, quá lớn mà người mẹ vẫn Khoan thai, Ung dung, Thanh thản! Có lẽ ít nơi nào trên trái đất này có Người mẹ như vậy!...

Cùng với chủ đề này, tác giả còn có nhiều bài khác để nói tới cái đa chiều của tấm lòng đối với quê hương, đất vước, con nguời như: Ngày thơ nhớ Bác, Ánh sáng diệu kỳ, Tấm gương trong sáng, Tiếng hát mồng một tháng mười, Biển ơi, Hoa Quảng ở Hà Thành... Một chủ đề khác trong nguồn "say thơ" của tác giả Trần Thân Mộc không thể không nhắc tới, đó là cái say về tình nghĩa thầy trò. Tác gỉả có vinh hạnh được học thầy Lê Trí Viễn - "Họ Lê, trí sáng đường dài":

Học thầy từ thuở mười hai

Đến nay bảy sáu (76t) chẳng phai lời vàng

Theo thầy nối nghiệp văn chương,

Gia đình, đất nước, yêu thương nặng tình.

(Trí sáng đường dài)

Đây là bài thơ kính mừng thầy vào tuổi Đại thọ 90. Thật là hạnh phúc khi Trò đã ngoài "thất thập" mà vẫn nhớ tới Thầy "cửu thập" và làm thơ mừng thọ với lòng biết ơn sâu sắc bởi những "Lời vàng" thầy truyền dạy năm xưa! Quả là: Đạo Hiếu - Trung và tình nghĩa Thầy - Trò luôn có sự gắn kết hài hòa, để góp phần tạo nên "Con người Thơ" Trần Thân Mộc !...

Là thầy giáo nên trang thơ và trang giáo án thường không rời nhau; cái Tâm và cái Tình giữa thầy và trò cũng vì thế mà thêm bền chặt, nghĩa tình thầy trò có khi lại là tình Sư - Đệ. Thân thiết là thế, nên có lúc thầy giáo Trần Thân Mộc đã thay lời học trò viết về cái nghĩa tình ấy bằng một bài "Khoán thủ vĩ" khá độc đáo:

NƯỚC cắt chia ư? Chung một NƯỚC

MÂY Nam mưa Bắc một trời MÂY

THÁNG chờ tin Quảng chờ nhiều THÁNG

NGÀY đợi thư quê đợi cả NGÀY

ĐẮP đạo Thiện Chân cùng vững ĐẮP

XÂY nền trí thức gắng bền XÂY

NGHĨA tình sư đệ tràn tình NGHĨA

THẦY của chúng em, mãi nhớ THẦY.

(Nước mây tháng ngày, đắp xây nghĩa thầy)

Ở chủ đề này, tác giả Trần Thân Mộc còn có các bài Nhớ La Pán Tẩn, Sát cánh bên nhau... viết về tình nghĩa thầy trò cũng khá sâu đậm. Một chủ đề khác trong nguồn "Say thơ" của Trần Thân Mộc không khó để nhận ra, đó là Tình đồng nghiệp và Tình bằng hữu. Tình cảm này có được là do sự "quảng giao" của tác giả. Ông có quan hệ thân thiết với nhiều đồng nghiệp trong cuộc sống thường ngày, trong giao lưu, xướng họa hoặc đàm đạo văn chương...Kết quả là một chuỗi bài đã được ghi nhận: Vẫn giữa lòng người, Kỉ lục tuyệt vời, Sen vàng nắng hạ, Hoa thêm màu thắm, Tấm gương sáng ngời, Vạn tấm lòng, Mãi hợp hòa, Càng nhớ hoàng hôn, Bạn quý thăm nhà...Đây là những bài ghi lại những tình cảm thân thiết với các đồng nghiệp, những "cố nhân" từng cùng sống và làm việc, những bạn thơ trong những cuộc giao lưu hữu hảo...

Trong tình đồng nghiệp, tình bằng hữu, tình đồng hương, phải kể đến một tiếng khóc thật não nùng khi tác giả phải tiễn người bạn chí thân, chí cốt của mình là Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Nghĩa Dân về cõi vĩnh hằng: ... Lòng trong, trí sáng, gan bền

Tấm gương nhà giáo luyện nên hiền tài

Anh với tôi, kể là hai

Mà lòng chỉ một, không phai tấc lòng

(Tiễn anh)

Trong xướng họa, phải kể đến sự thành công của tác giả khi viết bài "Vịnh chuột bạch" để họa bài "Loài chuột" của Yên Thao, do Ban tổ chức của Hội Nhà văn mời họa. Nếu ở bài xướng, người viết đã kể đến những điểm rất xấu xí của loài chuột, và có những nét mang tính ẩn dụ khá tinh tế ở phần "ngôn ngoại", thì ở bài họa, mang tính "đối lập", người viết đã chỉ ra cũng đủ những ưu điểm rất sang trọng, đáng trân quý của loài Chuột Bạch:

Nòi giống không sang, Bạch lại sang

Trắng lông, thân chỉ khoảng bằng gang

... Cũng là loài tý, công không tý

Người quý, kẻ chiều đâu dám phang

(Vịnh chuột bạch)

Thành công của bài họa có được ở tất cả các phương diện: họa đúng nguyên vận (luật trắc); niêm, luật, đối đều rất chỉn chu theo sự đòi hỏi khắt khe của thơ Luật Đường. Ý tứ mang tính thời sự và ngợi ca "Đức hi sinh" cao quý cho khoa học và vì nhân loại của loài Chuột Bạch cũng mang tính ẩn dụ khá sâu sắc...

Đến đây, có thể nói rằng, nỗi niềm "Say thơ" của tác giả Trần Thân Mộc được thể hiện ở khá nhiều phương diện, từ những cái rất riêng đến những điểm rất chung, đều tạo được những dấu ấn khá đậm nét. Tất cả như là để tạo nên một nét "cá tính sáng tạo" trong lao động thơ của tác giả này...

III. CÁCH THỨC BỘC BẠCH NỖI NIỀM "SAY THƠ"

Có thể nói, tác giả Trần Thân Mộc đã có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, đã có vốn hiểu biết sâu sắc về văn chương để có được cái "say thơ" với những bài tâm đắc gửi đến bạn đọc. Những bài thơ này mang được những nét chung của thi pháp truyền thống và gửi gắm được những nét riêng của tác giả. Dưới đây là một vài điểm chính. Về thể thơ: Trong 44 bài của tập "Say thơ" cho thấy như sau: 20 bài thất ngôn bát cú,13 bài lục bát, 11 bài còn lại là thơ tự do và thơ 7 chữ. Điều này cho thấy tác giả thiên về những thể thơ quen thuộc của thi pháp truyền thống. Các bài thất ngôn bát cú thường mang được vẻ trang trọng, tác giả sử dụng vào các trường hợp như: mừng thọ hoặc đề tặng những bậc cao niên, những tấm gương anh hùng *(Bóng cao đại thụ, Mẹ anh hùng viếng nghĩa

trang, Mãi hợp hòa...); kính viếng những danh nhân và những người thân (Còn mãi giữa lòng dân, Tấm gương trong sáng, Vẫn giữa lòng người, Nhớ thương anh...); xướng họa với các thi hữu (Nhớ mãi, Vịnh chuột bạch, Từ "Hương xưa" đến Thi san...); để chào mừng, gửi gắm niềm tin (Niềm tin, Quốc bảo lòng dân, Đất nở hoa, Vạn tấm lòng...); để "tự bạch" về mình (Vẫn, Vinh dự lớn...). Giọng điệu thơ lục bát thuần túy dân tộc, giàu sức diễn tả, mang theo sự êm dịu, mượt mà, được tác giả sử dụng khi viết về những mất mát, tiếc thương (Ngờ đâu, Chị ơi!, Tiễn anh...); khi ngợi ca đất và người (Đất thiêng, Hương sắc Nghi Xuân, Kỉ lục tuyệt vời, Trí sáng đường dài, Ngày thơ Bác...). Bên cạnh các thể thơ nói trên là thơ 5 chữ (Hoa nở bên bờ suối*), 7 chữ

(Sát cánh bên nhau, Ánh sáng diệu kì,), 8 chữ (Nét đẹp đời người, Nguồn nước giếng Tiên, Say thơ, Tấm gương sáng ngời) và thơ tự do (Tha thiết, Biển ơi, Cây thông xanh). Tác giả dành chỗ cho các thể thơ này không nhiều, dùng để thể hiện những điều mới mẻ, mang dáng dấp của sự "bứt phá" để tiếp cận sự đổi mới. Tất nhiên, tác giả vẫn không quên phải giữ lấy những đặc trưng của thơ. Về sử dụng ngôn từ: Có thể nói, tác giả Trần Thân Mộc không quá cầu kì trong việc sử dụng ngôn từ cho thơ của mình, nhưng một khi đã dùng đến thì lại rất sắc nét, tạo được dấu ấn riêng. Chẳng hạn, Để khắc họa Mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Điền, một người mẹ phải gánh chịu nhiều mất mát, đau thương, tác giả đã đặc tả Mẹ với những hình ảnh "tóc dài quá chục lớp khăn tang", "lưng thẳng hơn trăm mùa lúa mới" bằng những từ

ung dung, thanh thản và đọng lại là "dáng mẹ khoan thai lộng nghĩa trang". Những hình ảnh "tóc dài", "lưng thẳng" và những từ "ung dung", "thanh thản', "khoan thai" như đã tạc nên một pho tượng về Mẹ Việt Nam anh hùng với phong thái đường hoàng, đĩnh đạc, vượt lên trên mọi đau thương, tang tóc, để đứng vững với quê hương, đất nước. Một chữ "lộng" đã làm cho không gian nơi nghĩa trang như bừng sáng ánh hào quang, chói lóa hẳn lên cả một vùng trời, xua tan đi tử khí, làm cho pho tượng về Người Mẹ anh hùng được tạc bằng ngôn từ trở nên kì vĩ lạ thường!...Bức tượng về Người mẹ anh hùng gợi cho người đọc liên tưởng tới bức tượng Anh Giải phóng quân trong những năm chống Mĩ cứu nước, do Lê Anh Xuân tạo tác, đã để lại một "Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ" thật kiêu hùng!...Người ta ca ngợi Việt Nam anh hùng bởi có những Người

Mẹ, Người Con anh hùng quả là như vậy!...

Cũng là sử dụng ngôn từ, tác giả Trần Thân Mộc chọn cho mình một cách nói "khẳng định" khá đặc biệt bằng bài "Vẫn", với "phép điệp" (một biện pháp tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt) khá thú vị:

Ngoảnh lại vẫn mình...đã bảy ba ,

Dẫu không còn trẻ, vẫn chưa già

Vẫn mê sách báo, say thơ phú

Vẫn thú việc phường, thích hát ca

Sức lực có mòn, lòng vẫn vững

Đôi chân vẫn chắc, bước còn xa

Tân Mùi nên vẫn luôn năng động

Vẫn đẹp trang đời, sống vị tha.

Tám câu thơ với tám chữ "vẫn", để khẳng định tám điều thật đáng trân quý ở một con người, tuy tuổi cao mà cứ lạc quan, năng động, vui sống với đời, với những niềm đam mê của mình. Chỉ một chữ "vẫn", nhưng tác giả đã khéo sử dụng, lặp tới tám lần với những ý nghĩa khác nhau, để khẳng định được cái Ý và cái Chí của mình khi tuổi đã cao mà vẫn "chưa chịu" già!...

Trong một vài bài khác, tác giả cũng sử dụng phép điệp để diễn đạt những ý khác nhau. Để biểu lộ nỗi xót thương khi mất đi người thân, tác giả thường dùng cách điệp nhóm từ "ôi hỡi ôi" (trong các bài: Nhớ thương anh; Vẫn giữa lòng người; Còn mãi giữa lòng người). Hoặc là để thể hiện một tình yêu say đắm, nhiệt thành, chân thật thì tác giả dùng phép "điệp cú", nhắc đi nhắc lại câu "tha thiết, ta yêu nhau tha thiết" (Tha thiết). Như vậy, tác giả đã sử dụng cả điệp từ, điệp nhóm từ và điệp câu. Các cấp độ của phép điệp đã được tác giả sử dụng với đúng vai trò của nó để biểu lộ những cảm xúc của mình và đã mang lại hiệu quả như mong muốn. Về sử dụng phép đối: Đây là cách sắp đặt từ ngữ, cụm từ và câu ở vị trí cân xứng nhau để tạo hiệu quả giống nhau hoặc đối nghịch nhau, nhằm

gợi ra một vẻ đẹp hoàn chình và hài hòa, để diễn đạt một ý nghĩa nhất định. Có thể nói, tác giả Trần Thân Mộc rất "sành" trong việc sử dụng biện pháp này, bởi lẽ ông làm rất nhiều bài thơ theo Luật Đường. Trong 44 bài của tập "Say thơ", thì có tới 20 bài được làm theo thể thơ này. Nếu cứ tính mỗi bài Thất ngôn bát cú bắt buộc phải có 2 cặp đối, thì cả 20 bài sẽ có tới 40 câu đối! Các câu đối đều có khả năng diễn đạt ý tứ của người viết rất chặt chẽ và cũng tạo được hứng thú cho người thưởng thức. Chẳng hạn câu đối:

Hồ rộng nước trong sâu nghĩa Đảng

Trúc xinh thân thẳng đẹp tình đời

(Vẫn giữa lòng người)

Người đọc vừa được ngẫm nghĩ về cái nghĩa tình trong trẻo và sâu nặng đối với Đảng và cái khí tiết của trúc xinh ngay thẳng, làm đẹp cho đời, vừa nhận ra hai chữ đầu của mỗi dòng thơ hợp lại, thì gọi được tên một người quen thuộc: Hồ Trúc! Đó là Cố Thứ trưởng Bộ Giáo dục, người đã góp công tạo dựng "Câu lạc bộ Thơ nhà giáo" ngay từ buổi đầu, để rồi nhiều tập "Tấm lòng Nhà giáo" cứ lần lượt ra đời. Đôi câu đối nhắc đến Cố Thứ trưởng Hồ Trúc như là một sự tưởng nhớ, một sự trân trọng và tấm lòng biết ơn...

Như đã nói ở trên, tác giả Trần Thân Mộc rất "sành" sử dụng phép đối, vì thể, ngòi bút của ông mặc sức tung hoành trong các bài thất ngôn bát cú thông thường, song nhờ đó, có khi lại bước sang địa hạt "chơi thơ" với những bài theo lối "thủ vĩ ngâm" (Niềm tin, Đất nở hoa) "khoán thủ" (Hoa thêm màu thắm) hoặc "khoán thủ vĩ" (Nước mây tháng ngày đắp xây nghĩa thầy, Quốc bảo lòng dân) rất ngoạn mục. Chẳng hạn, đây là bài tứ tuyệt "Hoa thêm màu thắm" làm theo lối "dĩ đề vi thủ":

Hoa biển, nhị vàng tỏa bốn phương

Thêm bao bạn đọc bấy yêu thương

Màu vui ánh mắt vì xuân mới

Thắm đẹp nụ cười duyên sắc hương.

Và sang lối "khoán thủ vĩ" có phần công phu hơn. Theo lối này thì 8 chữ đầu dòng theo chiều dọc, đọc từ trên xuống, và 8 chữ cuối dòng cũng đọc từ trên xuống, là một câu giống nhau, hợp thành ý nghĩa theo cấu tứ của bài, như ở các bài: Nước mây tháng ngày đắp xây nghĩa thầy, và bài Quốc bảo lòng dân. Đọc những bài thơ này, người đọc như được thưởng thức trò "chơi thơ", "chơi chữ" với những chữ nghĩa được chắt lọc, chọn lựa rất lí thú, đồng thời cũng thấy được ý tứ sâu sắc mà tác giả đã gửi gắm vào mỗi dòng thơ và "kĩ năng" về thơ cùng với sự "dụng công" rất nhiều của người viết. Trở lên là những nét nổi bật trong "cách bộc bạch nỗi niềm say thơ" của tác giả Trần Thân Mộc. Tuy nhiên, có đôi điều cũng nhận thấy khá rõ trong cách thể hiện ở tập thơ này. Ở một số bài, khi tác giả dầy công

đầu tư thì từ ý, tứ, đến cấu trúc và ngôn ngữ đều khá hoàn hảo; còn ở một vài bài khác thì chưa được như kì vọng. Nhìn một cách khái quát, có thể nhận ra ngôn ngữ thơ của tác giả Trần Thân Mộc rất chân chất, giản dị, chưa thật sự chải chuốt, đôi chỗ thật thà đến mức như có gì thì viết nấy, chỉ cốt lấy ý hay, tứ sáng là được. Chẳng hạn như trong tập "Đẹp trang đời", ở bài mời họa "Nhớ trường xưa" có hai câu:

Mái ấm Cẩm Khê thầy bạn cũ

Niềm vui Phố Hội dáng hình nguyên

thì người đọc dễ nhận ra, dù tác giả đã sử dụng thể "thất ngôn bát cú", với nhiều câu đối khác nhau rất thành thục, nhưng ở cặp đối này vẫn có phần hơi khiên cưỡng, câu đối cũng không thật chỉnh. Hoặc như ở bài mời họa "Hương Thu" nhân khi ra mắt Hương thu III cũng có khiếm khuyết tương tự:

Nay tuổi vào thu, hương lại tỏa

Thơ "Hương Thu" thắm đượm thân thương

Một đôi chỗ, tác giả thường sa vào kể và tả, hoặc có khi, do mạch cảm xúc cuốn đi, tác giả bỏ qua cả vần điệu của thể loại, làm cho những dòng thơ trở nên trúc trắc, khó đọc. Chẳng hạn như đoạn thơ này:

Bặt tin bao tháng bao năm

Em về chỉ được gặp Anh chuyện trò

Nhớ thương chị quá đi thôi

Biết bao kỉ niệm của thời ấu thơ

Tràn về khôn nói hêt lời...

(Chị ơi!)

Một vài điểm như nêu trên chỉ là những sơ suất nhỏ, cái đáng quý là sự chân thành và hồn hậu của cảm xúc, tạo được sự quý mến và đồng cảm của người đọc...Cái đáng quý nữa mà người đọc đều nhận ra khi ông làm Chủ nhiệm 2 Câu lạc bộ thơ, ông đã có điều kiện để trau chuốt thơ hơn trước, nên các bài gần đây (khi chỉ là Hội viên của các CLB), thì thơ ông có phần hấp dẫn hơn, độ "chín" cao hơn. Chẳng hạn như các bài "Hoa Quảng ở Hà Thành", "Vinh dự lớn". Đó là sự tiến bộ của một tác giả thơ mà ai cũng nhiệt tình cổ lệ...

IV. LỜI KẾT

1. Đọc "Say thơ" của tác giả Trần Thân Mộc, chắc có lẽ không ít người cũng cảm nhận được những nỗi niềm "say" của ông. Cái say ấy là có ngọn nguồn, cơn cớ; có khối lớn, khối nhỏ; có cái riêng, cái chung, rất phong phú, đa dạng. Ở mỗi phương diện, cái say của ông đều để lại những dấu ấn khó phai...

2. Thơ của ông chân thật, thấm đượm tình nhân thế, được truyền tải bằng những cách thức quen thuộc của thi pháp truyền thống, đôi khi cũng có chút bứt phá để tiếp cận sự đổi mới của thơ ca và của thời đại. Dĩ nhiên, ông cũng đã đem đến cho người đọc những tình cảm buồn vui, những phút giây thăng hoa của cảm xúc bằng "cá tính sáng tạo" của mình...Mặc dù có đôi chút chưa được như ý, nhưng xem ra cũng thể tất được, bởi như người ta thường nói: "Ngọc còn có vết nữa là...". 3. Một đời dạy học, trải qua đủ các cấp học từ thấp đến cao, mỗi trang giáo án đều có hình bóng của những trang thơ, tác giả Trần Thân Mộc đã truyền đến cho người đọc sự cao quý của nghề dạy học và sự đam mê với chữ nghĩa văn chương. Đó thực sự là những điều đáng trân quý!...

Hà Nội, Mùa hè 2021