Tuyển tập văn
VỀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA ĐÌNH NGUYÊN HOÀNG GIÁP ĐÀO NGUYÊN PHỔ
Đôi nét về Tiểu sử Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ:
*"Đào Nguyên Phổ (1861-1908), tự Hoành Hải, Tảo Bi, hiệu Cần Giang, họ tên cũ là Đào Văn Mại, người làng Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, là thân sinh nhà văn Đào Trinh Nhất. Đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân (1884), làm huấn đạo và tri huyện huyện Võ Giàng một thời gian thì bị bãi chức. Sau vào học Quốc Tử Giám ở Huế và đỗ đầu (Hoàng Giáp) khoa Mậu Tuất (1898) dưới đời Thành Thái (1889-1907). Nhận chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm một năm rồi xin nghỉ, tham gia biên tập Đăng cổ tùng báo (Tập báo khêu đèn gióng trống), rồi Đồng văn báo quán, làm chủ bút tờ Đại Nam đồng văn nhật báo (Báo hàng ngày của nước Đại Nam chung một văn tự), kế đó là tờ Đại Việt công báo ở Hà Nội. Là nhà Nho sớm tiếp thu tư tưởng tư sản dân quyền, nhà có nhiều sách tân thư, ông chán ghét chế độ quan trường, ham thích canh tân đất nước, trở thành một trong những người
sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, nhưng chỉ tham gia soạn sách chứ không trực tiếp giảng dạy. Tác phẩm có Tây Sơn thủy mạt ký (Khởi đầu và chung cục của triều đại Tây Sơn), dùng cho Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, một số sách giáo khoa chữ Hán soạn chung như Việt sử tân ước toàn biên (Bộ sách tóm lược mới về sử Việt) biên soạn trọn vẹn, cùng Hoàng Đạo Thành và Đoàn Triển (1907), Việt sử tập thành (Hợp thành sử Việt)...Đào Nguyên Phổ là người mang văn bản Truyện Kiều "bản kinh" từ Huế ra Hà Nội, đề tựa và giao cho Kiều Oánh Mậu tham khảo để biên tập thành Đoạn trường tân thanh (Quan văn đường tàng bản, 1902). Bài tựa xác nhận Truyện Kiều là một tác phẩm có giả trị phổ biến sâu rộng trong nhiều tầng lớp công chúng. Một số bài thơ, câu đối do ông ngâm vịnh, đề tặng hiện còn chép tản mác trong một
số sách Hán Nôm, chưa được thu thập lại".* Nguyễn Huệ Chi
(Từ điển Văn học, Bộ mới,
NXB Thế giới, 2004, tr.381)
Dưới đây là 2 bài viết của tác giả sách này được rút từ cuốn: "Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ" - Nhà chí sĩ trung kiên - Nhà báo tiên phong - Nhà giáo dục mang tư tưởng canh tân. NXB Hội Nhà văn, 2008. Sách gồm nhiều tác giả, gồm 380 trang, ra mắt nhân Lễ kỉ niệm 110 năm ngày mất của Danh nhân Đào Nguyên Phổ. *VỀ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA ĐÌNH NGUYÊN HOÀNG GIÁP ĐÀO NGUYÊN PHỔ Đông Kinh Nghĩa Thục* là một phong trào vận động văn hóa, giáo dục có ý nghĩa cách mạng ở nước ta hồi đầu thế kỉ XX. Đông Kinh Nghĩa Thục thực sự là một nơi thực hành tư tưởng Duy tân, cổ xúy cho nền Tân học. Xuất phát từ mục đích đào tạo mẫu người cho thời đại mới - con người của thời đại Duy tân, các nhà sáng lập Đông Kinh
Nghĩa Thục đã thực hiện một chương trình giáo dục mới với nội dung mới. Đông Kinh Nghĩa Thục cũng là nhà trường đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước ta có công đầu trong việc xây dựng những phương pháp đào tạo con người theo quan điểm dân tộc, khoa học và hiện đại. "Đông Kinh Nghĩa Thục xứng đáng có vinh dự ghi những trang đầu của khoa học giáo dục Việt Nam thời cận hiện đại" (Vũ Ngọc Khánh - Nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945). Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ tồn tại trong vòng 9 tháng (từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1907) nhưng đã gieo được những hạt giống tốt cho một nền giáo dục dân tộc, dân chủ tiến bộ trong tương lai mà thực dân Pháp không thể triệt phá được. Là một sáng lập viên của Đông Kinh Nghĩa Thục, Đào Nguyên Phổ tuy không
có những công trình riêng để tuyên bố tư tưởng giáo dục của mình, nhưng căn cứ vào những di cảo, do các hậu duệ của ông đã dầy công tìm kiếm và tập hợp, có thể nhận ra được những điểm rất đáng quan tâm trong tư tưởng giáo dục của ông. Sau khi đỗ Cử nhân tại trường thi Nam Định (năm 1877, lúc 17 tuổi), Đào Nguyên Phổ làm nghề dạy học trong những năm 1878 đến năm 1883; tiếp đó, làm Giáo thụ (Học quan) trong những năm từ 1884 đến 1891. Năm 1895, ông dự thi tuyển và được chọn vào học Quốc Tử Giám. Đến năm 1898, ông đỗ đầu kì thi Đình, khoa Mậu Tuất, năm Thành Thái thứ X và được giữ lại làm quan tại triều, sung chức Hàn lâm thừa chỉ. Tư tưởng "trị thiên hạ" trong đó có giáo dục được Đào Nguyên Phổ trình bày khá đầy đủ trong Bài văn sách thi Đình của ông. Đây là bài văn
trình lên nhà vua về kế sách cai quản đất nước, đã được chọn đỗ đầu. Trong bài văn này, Đào Nguyên Phổ đã trình bày những lẽ được mất, những điều cần làm và những điều không nên làm trong phép "trị thiên hạ" của các bậc quân vương thuộc các triều đại bên Trung Hoa và Đại Việt, rồi đưa ra những kế sách để vua ngự lãm. Ông trình bày các vấn đề về giáo hóa, lễ nhạc, dùng người, bỏ người, thưởng phạt...đều rất rõ ràng, minh bạch. Về việc học, ông viết : "Bệ hạ muốn cứu vãn thiên hạ như đời Đường Ngu, Tam đại thì chỉ nên noi theo cách trị thiên hạ của các đời ấy mà thôi. Cái điều cốt yếu vẫn ở đó. Thần cúi nghĩ, đó mới chỉ là một thuyết vậy. Một điều nữa là làm sao chăm lo đến sự nghiệp giáo dục để rèn luyện thành nếp sống đạo đức. Thần có nghe, đời xưa cầm gương đi đến
cửa vua, sử sách đầy mình, nhà lớn cắm cờ lụa đều coi việc học là ưu tiên vậy. Nói chung, muốn có vận tốt của đạo trời, thì cái học cửa thánh nhân ắt phải học theo thiên văn, thiên tường (điều lành của trời). Đối sách là không ngừng, không chấm dứt. Lập luận là ở đây"...
Và ông cũng nói rất thẳng thắn : "Thần không dám hiến lời nịnh nọt", rồi cũng dám tâu với nhà vua rằng: "Bệ hạ có cái vốn học vấn minh triết sâu rộng. Song thần thấy việc thánh học tà rộng mà chưa thấy sự chuyên sâu. Cúi mong những buổi giảng tập ở Kinh Diên ngày một tiến tới. Như thế sẽ đạt tới đức chí minh (rất sáng suốt) vậy. Đủ để có cái đức hiểu biết con người một cách quyết đoán, đủ để cai quản cấp dưới mà rất thuận với phong thái, tỏa ra khắp nơi, thấm tới muôn dân mà quốc thể sẽ ngày càng được tôn vinh, yên ổn". Như vậy, bằng cách viết có lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng trong sử sách xa gần rất mạch lạc, cùng những lời lẽ khiêm tốn, kính cẩn, Bài văn sách thi Đình của Đào Nguyên Phổ đã lọt được vào con mắt của nhà vua. Không biết nhà vua đã sử dụng được bao nhiêu điều về phép cai quản đất
nước nói chung và về giáo dục nói riêng vẫn đáng để cho người đời nay suy ngẫm, tham bác, ngõ hầu có thể áp dụng được. II Từ những điểm bao quát về giáo dục đã được trình bày trong Bài văn sách thi Đình, về sau, Đào Nguyên Phổ đã có dịp trình bày tư tưởng của mình cụ thể hơn trong các trước tác, trong việc biên soạn sách giáo khoa tân học...Có thể nhận thấy những điểm rất cụ thể bộc lộ tư tưởng giáo dục của Đào Nguyên Phổ qua việc dạy học một vài môn học như sau: **Về việc dạy học "Quốc sử".* Đào Nguyên Phổ từng viết : "Nước không cứ lớn nhỏ, có nước ắt có sử. Sử như một bức ảnh chụp toàn cảnh đất đai, nhân dân cùng tình hình chính trị, giáo dục của các triều đại" (Tựa bộ Việt sử tân ước toàn biên*).
Chính vì vậy, ông rất coi trọng việc dạy học lịch sử. Cũng trong bài tựa cho bộ Việt sử tân ước toàn biên, ông phải thốt lên rằng : "Ôi! Cái gọi là thực học, thì điều quan trọng số một là sử nước nhà". Và trong bài tựa cho cuốn Việt sử thông học (của Ngô Đức Dung), ông cũng viết một cách đầy nhiệt thành như sau : "*Nhân dân ta trước hết hãy đọc sử nước nhà, để trong đầu óc mình lúc nào cũng có tư tưởng về Tổ quốc Việt Nam; lại phải phát huy cái tốt của nước mình, cái tinh hoa của dân tộc mình để đào tạo tính chất cho thanh niên, sau đó lại tham khảo đến sử các nước Á Đông để xem xét về cách tiến bộ đột xuất, xem rộng đến sử châu Âu, châu Mỹ để biết những cái tinh xảo kì diệu, để rõ lẽ hơn được, kém thua, để cải cách xã hội, xét xu hướng của thời vận, chuyển nghèo thành giàu, đổi yếu thành mạnh, người dạy và người học sử đều có trách
nhiệm đóng góp". Những lời nhiệt thành ấy như đã thể hiện tâm huyết của Hoàng giáp họ Đào về lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đồng thời cũng mong mỏi và chỉ ra con đường cần phải đi trong việc học sử nước mình, học sử nước người để "cải cách xã hội...chuyển nghèo thành giàu, đổi yếu thành mạnh". Để làm được việc đó thì người dạy sử và người học sử đều phải có trách nhiệm chung vai gánh vác. Vậy thì phải dạy học sử như thế nào? Theo ông thì việc dạy học sử phải được bắt đầu từ rất sớm: "Trẻ em từ 7 đến 8 tuổi vào lớp vỡ lòng, phải cho luyện tập ngay việc đọc quốc văn, quốc sử. Đối với phụ nữ cũng như thế. Sở dĩ phải in vào trong trí não mọi người hai chữ "Quốc Gia" sao cho bền vững không lay chuyển được, bó bện không thể nào cởi bỏ được, thay vì khi tuổi đã lớn, việc học đã thành tựu thì không ai không mối
quan hệ mật thiết giữa Tổ quốc với gia đình và bản thân mình". Ông không quên nêu lên một thực trạng của thời đại mình: "Trải qua các đời lại đây, các khóa sĩ ở trường làng, qua khoa cử để lấy người tài, người học kinh truyện thì quốc sử chỉ học qua loa. Do vậy mà trăm năm, nghìn năm quả thực là điều sai lầm lớn của học giới. Cho nên, điều cực kì tệ hại là tư tưởng yêu nước của nhân dân bị chìm đắm. Con đường tấn thân lấy phương châm giúp nước bị mịt mù như cách trở trùng dương. Thấy người trong nước Bắc với Nam thì coi nguy hiểm như người khác. Đó là những người không đọc quốc sử vậy. Há có phải riêng chịu sự quả báo của ngu dốt, hủ lậu mà thôi đâu! Có thể nói ngay rằng cái gốc rễ của sự nghèo hèn từ đó mà ra. Đây không phải là sự bàn luận thái quá đâu!"* Nhận rõ vai trò của dạy học lịch sử, ngay ở thời đại mình, Đào Nguyên
Phổ đã thức tỉnh học giới: "Ngày nay phong hội đang tiến tới, sự mở mang lớn của thời đại văn minh, nếu không vứt bỏ lối văn bát cổ ấy đi mà nghiên cứu khoa học thì không thể gọi là học sinh được. Không khảo xét rộng năm châu từ xưa đến nay thì không thể coi là kẻ sĩ thông đạt được. Đó là điều ai cũng nhận thức được". Song, ông cũng không quên đưa ra lời cảnh báo: "Nếu vứt bỏ cái gần gũi với ta, mà chuyên theo đuôi cái xa xôi hão huyền, thì cái điều sở học sẽ mất gốc rễ. Coi cái của ta là hèn kém mà chỉ chú trọng đến cái của thiên hạ, thì cái đều gọi là thành công đấy, rốt cuộc cũng là tư tưởng nô lệ. Cho nên, người trí thức có sự học rộng trác việt, vào hàng thông kim bác cổ mà không biết sử nước Nam, không tường việc nước Nam thì hẳn không có lợi ích gì thêm cho nước nhà, cũng không thể gọi là dân nước Nam". Xem như thế thì đủ thấy Hoàng giáp
họ Đào thực là người có tầm nhìn xa trông rộng, có tấm lòng trung trinh, son sắt đối với quốc gia, dân tộc đến nhường nào! Đó cũng là lời tâm huyết của một nhà Nho thức thời, rất cẩn trọng khi đưa ra từng lời, từng chữ, cẩn trọng đến mức "rửa tay trước khi viết" và kí tên để lãnh chịu trách nhiệm khi viết bài tựa cho bộ Việt sử tân ước toàn biên như sau: "Thượng tuần tháng 11 năm Bính Ngọ (1906) triều Thành Thái, khoa Mậu Tuất (1898), Đình nguyên đệ nhị giáp Tiến sĩ, sung chức Thừa chỉ, Tảo Bi Đào Nguyên Phổ rửa tay trước khi viết". Quả thật, nếu việc dạy học lịch sử làm được như những mong muốn của Hoàng giáp họ Đào, thì ngày nay, chúng ta đã không phải lo phiền về việc học sinh nhớ những sự tích, danh nhân của nước ngoài hơn là nhớ những trang sử oai hùng và những danh nhân lỗi lạc của đất Việt. Và cũng không
phải làm cái việc như có nơi đã làm là ở mỗi đầu phố mang tên một danh nhân, thì phải có thêm một cái bảng "trích ngang" về thân thế, sự nghiệp của danh nhân đó. Thật cực chẳng đã mới phải làm như vậy! **Về việc dạy học "Luân lí, Đạo đức" ^(1)\ ^* Tư tưởng giáo dục của Đào Nguyên Phổ còn được thể hiện qua việc biên soạn quyển "Ấu học Hán tự tân thư*" gồm 4 tập, viết bằng chữ Hán. Có người cho rằng, bộ sách này còn có nhà Nho Phạm Tự Trực cùng tham gia. Theo ông Phạm Bào (là chắt ngoại của Hoàng giáp họ Đào, ở Thái Bình) cho biết, bộ sách này dùng để dạy cho các sinh đồ trong trường, sau đó được truyền bá đi khắp nước. Trong sách có bài viết theo thể thơ, có bài viết theo thể văn xuôi, thường là bài ngắn, câu ngắn, có vần, dễ đọc, dễ nhớ. Bộ sách 4 tập này đã bị thực dân Pháp tiêu hủy.
Ông Phạm Bào đã để công sưu tầm. Kết quả cũng không thật khả quan lắm. Các bài dạy về lịch sử là: Trưng Nữ Vương, Trần Quốc Tuấn, Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi, ; các bài dạy về luân lí, đạo đức là: Công ơn cha mẹ, Anh em, Thân thuộc, Tu thân và Liêm. Nhìn chung, những bài dạy về lịch sử đều được viết rất ngắn gọn, dạy cho người học những kiến thức sơ giản nhất về các nhân vật lịch sử. Ví dụ, bài dạy về Trưng Nữ Vương được viết sau: "Vua họ Trưng, tên húy là Trắc, con gái Lạc tướng. Lúc bấy giờ tên Thái thú Giao Chỉ là Tô Định tham tàn giết chồng bà. Bà cùng em gái là Nhị đem quân đánh Tô Định, đuổi Định về phương bắc, lấy được hơn sáu mươi thành ở Lĩnh Nam dựng nước, tự lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Nước ta được độc lập bắt đầu từ thời Trưng Nữ Vương, có thể gọi bà là anh hùng
thứ nhất trong nữ giới". Cách viết như vậy là chắt lọc, cô đọng tới mức tối đa, nhưng vẫn đem lại cho người đọc những thông tin cần thiết, cơ bản về một Nữ anh hùng của dân tộc đã có công dẹp giặc, dựng nước. Tương tự như vậy, những bài dạy về luân lí, đạo đức cũng được biên soạn rất mềm mại, khéo léo. Ví dụ như bài "Anh em" dưới đây: "Anh em như là chân tay. Chân tay mạnh thì thân thể khỏe. Chân tay đau thì thân cũng đau. Đại khái cùng một giọt máu của người cha, cùng một bào thai của người mẹ, cùng được cha mẹ nuôi dưỡng, không có gì không cùng thì đừng nên trái (tính) nhau. Trái (tính) nhau thì sẽ xung đột, xung đột sẽ xa cách, xa cách sẽ bất hòa, bất hòa thì anh em trong nhà ngược lại sẽ là thù địch. Tình máu mủ trở thành mâu thuẫn thì đạo nhà
suy. Chẳng những nhà suy mà đất nước cũng vậy". Đây là một cách viết rất hình tượng, dùng lối so sánh và lối "xâu chuỗi" mang tính nhân quả để cho người học dễ nhận ra cái tình nghĩa anh em thân thiết, quan trọng như thế nào, phải gìn giữ nó ra sao và phải biết sống với nhau sao cho hòa thuận, để vừa "lợi gia", lại vừa "ích quốc". Trong các bài dạy về luân lí, đạo đức, rất đáng chú ý nữa là bài "Liêm". Bài dạy được dịch ra tiếng Việt như sau: "Liêm là dũng tướng chế ngự quân tham, lòng người chưa hẳn ai đã khỏi tham, nhưng cũng chưa hề không có liêm. Hai điều đó giao chiến trong bụng và tranh giành được, thua. Để cho tham thắng liêm thì phủ tạng (các bộ phận) trong bụng đều là kho của kẻ cướp bóc. Để cho liêm luôn luôn thắng tham thì quân cướp bóc đó đều là trở thành quân có
tiết chế. Chim bởi tham thóc mà sa vào lưới, cá bởi tham mồi mà mắc câu. Ấy cho nên liêm là điều rất quý của con người. Người xưa cho rằng không có tham là quý, là muốn giữ điều liêm. Liêm không tồn tại thì vật quý cũng mất mà thân không nguy hiểm là điều ít có". "Liêm" là trong sạch, ngay thẳng, không tham của người. Nếu chỉ dạy như vậy thôi thì chưa hẳn người học đã mường tượng ra cái trong sạch, ngay thẳng và không tham của con người nó như thế nào. Nhưng viết một bài dạy về "liêm" như trên thì lại đem đến cho người học một nhận thức khá cụ thể và sâu sắc. Bài dạy ví "liêm" như một vị dũng tướng để chế ngự quân "tham" và "cái liêm", "cái tham" luôn luôn giao chiến, giành giật với nhau trong mỗi con người. Hai chữ "liêm" và "tham" cứ lật đi,
lật lại để cho thấy rõ: nếu tham thắng liêm, thì các phủ tạng trong con người đều là "kho của kẻ cướp bóc"; còn nếu liêm thắng tham, thì "quân cướp bóc đều trở thành quân có tiết chế". Hình ảnh "con chim tham thóc", "con cá tham mồi" dẫn đến tai họa là những hình ảnh cụ thể, đắt giá để cảnh báo cho con người hãy biết chế ngự lòng tham. Điều đó cũng có nghĩa là người có liêm là người luôn biết tỉnh táo để chế ngự cái "tư dục" (những ham muốn riêng) của mình, bởi lẽ, nếu để "tư dục" thắng thì "công lí mờ", mà một khi "công lí mờ", tức là đánh mất cái liêm, hoặc quên mất cái liêm thì thân sẽ bại, danh sẽ liệt. "Liêm không tồn tại thì vật quý cũng mất mà thân không nguy hiểm là điều ít có". Cái lẽ tất yếu phải giữ lấy cái liêm là như vậy. III
Như vậy, bằng tất cả những gì có được trong nguồn Di cảo của Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ có liên quan đến giáo dục, có thể nhận ra những điều rất quý báu trong tư tưởng giáo dục của ông. 1. Trong Bài văn sách thi Đình trình lên vua Thành Thái được chọn đỗ đầu, Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ đã trình bày một cách quan phương và tường minh về phép "trị thiên hạ". Riêng về việc học, ông trình lên nhà vua rằng: "Làm sao chăm lo đến sự nghiệp giáo dục để rèn luyện thành nếp sống đạo đức"; "Coi việc học là ưu tiên"; "Muốn có vận tốt của đạo trời, thì cái học của thánh nhân ắt phải học theo thiên văn, thiên tường (điều lành của trời). Đối sách là không ngừng, không chấm dứt". Đào Nguyên Phổ như đã nhắc nhở nhà vua cần quan tâm đến việc học, chỉ có học mới có thể "cải cách xã hội,...chuyển nghèo thành giàu, đổi yếu thành mạnh được".
Rõ ràng, Đào Nguyên Phổ đã coi việc học là động lực cơ bản để thúc đẩy xã hội không ngừng tiến tới. 2. Tư tưởng về giáo dục của Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ không chỉ dừng lại ở những điều đã tấu trình lên nhà vua, tức là không dừng lại ở những điểm chỉ mang tính chất chủ trương, định hướng, mà đã được vận dụng một cách cụ thể vào việc: a). Đề xuất việc dạy "Quốc sử" với tâm nguyện: "Nhân dân ta trước hết hãy học sử nước nhà, để trong đầu óc mình lúc nào cũng có tư tưởng về Tổ quốc Việt Nam; lại phải phát huy cái tốt của nước mình, cái tinh hoa của dân tộc mình để đào tạo tính chất cho thanh niên,...". Đó cũng chính là tinh thần mà sau này, Chủ tich Hồ Chí Minh từng mong mỏi: "Dân ta phải biết sử ta" vậy.
b). Biên soạn Sách giáo khoa với tinh thần và phương pháp dạy học mới, mong sao cho con em đất Việt khai tâm, khai trí, có những hiểu biết về thiên nhiên, cây cỏ, thời tiết, chim muông,...; biết cách tu dưỡng ăn ở, đối xử với cha mẹ, bạn bè, người thân; biết về địa lí, lịch sử và chính trị của nước Việt Nam. 3. Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ sống dưới chế độ quân chủ, lòng "Trung quân ái quốc" luôn được đặt lên hàng đầu, nhưng ông đã rất thức thời khi được tiếp cận với các "Tân thư" và ông đã vượt qua thời đại của mình để đến với những canh tân cho giáo dục. Những gì ông tiếp thu được để vận dụng vào giáo dục đã phần nào được thực thi ở Đông Kinh Nghĩa Thục. 4. Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ đã sống và làm việc cách xa chúng ta hơn một trăm năm, song những gì ông để lại với tấm lòng của một người yêu
nước, yêu dân và thấm đẫm lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong xây dựng đất nước và trong giáo dục vẫn đáng để cho chúng ta ngưỡng mộ, học tập. Thiết nghĩ, những điều ông mong muốn trong thời đại của mình đối với giáo dục, thì có nhiều điều vẫn đang là mong muốn của thời đại chúng ta...
Hà Nội, Mùa Xuân năm Mậu Tý, 2008
---------------------------
*(1). Về những bài Luân lí, Lịch sử nêu trong bài, cũng có nhà nghiên cứu cho rằng trùng với những bài trong sách cùng tên Ấu học Hán tự Tân thư của Dương Lâm (1851-1920) cùng một số người khác soạn. Đây là vấn đề cần có sự thẩm định của các nhà nghiên cứu... Theo ý kiến của nhà văn Bút Ngữ, và một số tác giả đã viết trên các sách báo ở Thái Bình, thì không phải chỉ thân nhân mà nhiều người ở Thái Bình xác nhận là của Đào Nguyên Phổ đã soạn trước khi Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời...Ông Dương Lâm có tham gia soạn sách cũng là vào cuối đời, sau khi nghỉ hưu, mà theo sử liệu thì Hội đồng tu thư do phủ Thống sứ Bắc kỳ lập ra theo nghị định 1906. Như vậy, sách viết ra và đưa in cũng phải sau 1907. Hơn nữa, người biên soạn sách giáo khoa cũng không nhất thiết và đồng thời phải là tác giả của các bài viết trong sách đó. Họ có thể sử dụng bài viết sẵn của
người khác trong đó có bài viết trong sách của Đào Nguyên Phổ. II. BẢN DỊCH BÀI PHÚ "TIỀN XÍCH BÍCH" của Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ (Nguyên tác của Tô Đông Pha)*