Tuyển tập thơ
QUỐC KỲ KỂ CHUYỆN
Tôi sinh ra từ Thế kỷ Hai mươi,
Một chín bốn mươi (1940), Nam Kỳ khởi nghĩa,
Mang trên mình một Sắc thắm Đỏ tươi,
Và Ánh vàng trên Ngôi sao rực rỡ.
Tôi sinh ra bởi lòng người thiết kế ^(*)^,
Thấm máu Lạc Hồng của bao thế hệ,
Truyền vào tôi Sứ mệnh thiêng liêng,
Của Bốn nghìn năm, Tổ quốc uy nghiêm...
Kể từ đó, tôi truyền đi máu lửa,
Diệt xâm lăng trên khắp đất Nam Kỳ,
Khủng bố trắng, giặc giết người man rợ,
Cùng đồng bào tôi vượt hết hiểm nguy...
Tôi đến với Ba mươi tư (34) chiến sĩ,
Dưới bóng Cờ Sao cùng nhau tuyên thệ,
Đánh dẹp xâm lăng dù phải hy sinh,
Đa Tân Trào: Chứng giám phút uy linh...
Tôi nhớ mãi: Sáng Mùng Hai Tháng Chín,
Được tung bay trong Giọng Nói Bác Hồ,
Lời Tuyên ngôn: Nước Việt Nam Độc Lập,
Dân Nước Nam: Khắp chốn được Tự Do!...
Chẳng thể quên ngày đánh trận Điện Biên,
Theo xung kích đào hào quanh lòng chảo,
Tổng công kích, sức quân ta áp đảo,
Tướng giặc đầu hàng, Cờ Đỏ phất lên!
Vẫn rất nhớ ngày: Giải phóng Thủ đô,
Những cánh quân tiến vào Năm Cửa Ô,
Phố xá tưng bừng, cờ hoa chào đón,
Khắp nẻo đường: Vang dậy tiếng hoan hô!...
Không thể quên: Những năm dài chia cắt,
Bờ Hiền Lương cao vút một Kỳ đài.
Đồng bào Phương Nam thủy chung, son sắt,
Vững lòng tin, cùng hướng tới tương lai...
Tôi nhớ những năm: Đấu tranh Thống nhất,
Phải thật kiên trì, mưu lược, dẻo dai,
Cờ hồng giương cao, tinh thần bất khuất,
Nam Bắc một lòng, không thể chia hai!
Cứ nhớ những năm: Dựng xây Miền Bắc,
Cờ Thi đua bay khắp mọi nẻo đường,
"Làm việc bằng hai": Người người thầm nhắc,
Mong sớm đến ngày Thống nhất quê hương...
Còn nhớ những năm: Sục sôi chống Mỹ,
Cờ theo quân đi, xẻ dọc Trường Sơn.
Sức mạnh kiêu hùng: Những chàng dũng sĩ,
Ba mươi tháng tư: Giải phóng Sài Gòn!...
Không thể quên: Trên các bàn Hội nghị,
Bên những con người trí tuệ vô song,
Cờ hiện diện để giữ bền ý chí,
Góp một phần tô điểm những thành công!...
Nhớ khôn nguôi những chiến sĩ Gạc Ma;
Giữ biển đảo phải đương đầu giặc dữ.
Cờ đỏ giương cao: Vòng tròn Bất tử!
Tổ quốc lưu danh, Mẹ Biển xót xa...
Tôi đi cùng chiến sĩ Mũ Nồi Xanh,
Đến Châu Phi gieo Hạt giống Hòa bình.
Cờ Đỏ Sao Vàng tung bay thân thiện,
Trẻ nhỏ, người già líu díu vây quanh...
Tôi tự hào mang Linh Hồn Tổ Quốc,
Ngày Quốc khánh hân hoan cùng Đất nước,
Tôi thấy mình trong nét vẽ, câu thơ,
Trong giai điệu những bài ca tiến bước...
Rất ấn tượng với từng màn trình diễn
Của thể thao và thể dục nước nhà.
Những khoảnh khắc thăng hoa tràn cảm xúc.
Cờ kéo lên: Trong tiếng nhạc Quốc ca!...
Tết Độc Lập cờ bay khắp mọi nơi,
Cờ thân thương như mọc giữa biển người,
Gắn trên mũ, trên vai, trên ngực áo,
Mỗi con người lan tỏa ánh cười tươi...
Diễu binh, diễu hành trang trọng tưng bừng,
Nhạc lệnh hào hùng, cờ trống uy nghi,
Lực lượng biểu dương đủ đầy binh chủng,
Dân tộc chuyển mình trong mỗi nhịp đi...
Tám mươi năm, nay rực rỡ Ba Đình,
Vượt mọi gian nan, thử thách, hy sinh,
Tươi thắm cờ hoa, đón chào hạnh phúc.
Đoàn kết toàn dân, Tổ quốc vươn mình...
Tôi thấy mình trong ánh mắt em thơ,
Trong trái tim những thanh niên khỏe mạnh,
Trong tâm thức những chiến binh kiêu hãnh,
Hình bóng Cờ Sao, chẳng chút phai mờ...
Én bạc, én xanh mang Cờ Tổ quốc,
Giữ bình yên, xanh ngắt những khung trời.
Vân Đồn - Hoàng Sa - Trường Sa - Phú Quốc...
Một "Vành đai Cờ": Canh giữ biển khơi...
Đất chữ S: Việt Nam rất tự hào,
Lũng Cú - Thủ Đô - Thành Huế - Cà Mâu...
Những Kỳ đài sáng toả ánh Vàng sao,
Khẳng định Đất này: Bền vững, Dài lâu...
Tôi ung dung giữa rừng cờ Quốc tế,
Thế đứng Việt Nam: Năm châu vị nể,
Ánh Sao vàng cùng Sắc đỏ thắm tươi,
Cờ Việt Nam: Mang sức hút hồn người...
Đất nước Việt Nam: Thế lực dồi dào,
Lá Quốc kỳ Đỏ thắm Ánh vàng sao,
Nơi lấp lánh bao Linh hồn chiến sĩ,
Đến muôn đời: Lồng lộng giữa trời cao...
(*Viết nhân dịp 80 năm Quốc khánh,*
*1945 -- 2025)*
*----------------------------------------------*
*(*) Người được công nhận đã vẽ lá cờ đỏ sao vàng là nhà Cách mạng,
Liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, thường được gọi là Giáo Hoài (1901-1941).*
*- Quá trình sáng tác: Lá cờ lần đầu tiên được vẽ và sử dụng trong cuộc
Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940, theo chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, và
đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, một thành viên của Xứ ủy Nam Kỳ, đã hoàn thành
nhiệm vụ này.*
*- Tầm quan trọng: Mẫu cờ do ông Nguyễn Hữu Tiến vẽ đã được Xứ ủy Nam Kỳ
nhất trí thông qua và sử dụng cho công tác tuyên truyền. Lá cờ có nền đỏ
và ngôi sao vàng năm cánh, thể hiện ý tưởng máu đỏ, da vàng tượng trưng
cho dân tộc và sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân bao gồm: sĩ, nông,
công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Cảm hứng khi
sáng tác lá cờ được Nguyễn Hữu Tiến gửi gắm qua những dòng thơ sau:*
*"...Hỡi những ai máu đỏ da vàng,*
*Hãy chiến đấu dưới Cờ thiêng Tổ quốc.*
*Nền đỏ thắm máu đào vì nước,*
*Sao vàng tươi da của giống nòi.*
*Đứng lên mau! Hồn nước gọi ta rồi,*
*Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh (**)*
*- Sự công nhận: Tại Hội nghị Tân Trào, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa năm
1945, Quốc dân Đại hội đã nhất trí chọn lá cờ do Nguyễn Hữu Tiến sáng
tác làm lá cờ của Cách mạng Việt Nam. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành
công, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp vào tháng
3/1946, đã quyết định lấy lá Cờ đỏ Sao vàng làm Quốc kỳ của nước ta và
giữ cho đến ngày nay.*
(**) Sơn Tùng*: Nguyễn Hữu Tiến, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1981.*